Dịch vụ công bố sản phẩm - nhà tư vấn

Các sản phẩm hầu hết phải đăng ký lưu hành mới được bán lẻ hay phân phối trên thị trường, từ trước tới nay Việt Tín là thương hiệu đã quá quen thuộc với các đơn vị sản xuất hay nhập khẩu sản phẩm như thực phẩm, thực phẩm chức năng hay mỹ phẩm.

Công bố mỹ phẩm là công việc không phải dễ chút nào, trong đó khâu soạn hồ sơ công bố mỹ phẩm là việc làm khó nhất, dễ sai sót nhất và có những doanh nghiệp lộn xộn cả tháng trời mà chưa xong được công bố. Việt Tín cung cấp dịch vụ công bố mỹ phẩm như một lời hứa với thị trường, Việt Tín giúp các doanh nghiệp nhanh chóng có giấy chứng nhận chất lượng mà phân phối hàng hoá kịp thời tới thị trường đầy cạnh tranh khốc liệt. Ngoài ra khi sử dụng dịch vụ của Việt Tín các đơn vị còn nhận được ưu đãi lớn với 10 % giảm giá cho các dịch vụ tiếp theo khi doanh nghiệp sử dụng, đây là một trong những chính sách rất hay của Việt Tín nhằm khẳng định thương hiệu và khẩu hiệu : "với Việt Tín không gì là không thể" ...

Cũng như mỹ phẩm, việc công bố thực phẩm không phải dễ dàng gì với các doanh nghiệp trong nước hay các doanh nghiệp nhập khẩu thực phẩm từ nước ngoài về. Việc công bố thực phẩm đòi hỏi khắt khe hơn mỹ phẩm ở chỗ thực phẩm cần phải được kiểm nghiệm chặt chẽ về thành phần cũng như hạn dùng, và doanh nghiệp cần phải lưu ý bổ sung giấy phép vệ sinh an toàn thực phẩm mới có quyền phân phối, sản xuất thực phẩm. Hãy để mọi việc đó cho Việt Tín, Việt Tín có dịch vụ công bố thực phẩm nhận làm trọn gói từ A-Z cho tất cả các doanh nghiệp muốn công bố sản phẩm.

Liên hệ ngay tới Việt Tín nếu bạn đang có nhu cầu làm công bố !

3 bước để xây dựng và phát triển thương hiệu

Phần 3 - Thực thi quyền sở hữu trí tuệ

Quyền của chủ sở hữu các đối tượng Sở hữu công nghiệp tại Việt Nam được ghi nhận và cụ thể hoá như sau:

1. Chủ sở hữu sáng chế, giải pháp hữu ích đã được bảo hộ có độc quyền:

Sản xuất (chế tạo, gia công, lắp ráp, chế biến, đóng gói) sản phẩm, bộ phận sản phẩm đang được bảo hộ là sáng chế, giải pháp hữu ích;

Áp dụng qui trình đang được bảo hộ là sáng chế, giải pháp hữu ích;

Khai thác sản phẩm, bộ phận sản phẩm đang được bảo hộ là sáng chế, giải pháp hữu ích;

Ðưa vào lưu thông; quảng cáo nhằm để bán; chào bán; tàng trữ để bán sản phẩm được bảo hộ hoặc sản phẩm được sản xuất theo quy trình được bảo hộ;

Nhập khẩu sản phẩm được bảo hộ hoặc sản phẩm được sản xuất theo quy trình được bảo hộ.
2. Chủ sở hữu kiểu dáng công nghiệp đã được bảo hộ có độc quyền:

Sản xuất, đưa vào lưu thông, quảng cáo nhằm để bán, chào bán, tàng trữ để bán; nhập khẩu sản phẩm có hình dáng bên ngoài được bảo hộ với danh nghĩa là kiểu dáng công nghiệp.

3. Chủ sở hữu nhãn hiệu hàng hoá đã được bảo hộ có độc quyền:

Gắn nhãn hiệu hàng hoá, tên gọi xuất xứ hàng hoá được bảo hộ lên hàng hoá, bao bì hàng hoá, phương tiện dịch vụ, giấy tờ giao dịch trong hoạt động kinh doanh,
Lưu thông, chào bán, quảng cáo nhằm để bán, tàng trữ để bán hàng hoá mang nhãn hiệu hàng hoá, tên gọi xuất xứ được bảo hộ,
Nhập khẩu hàng hoá mang nhãn hiệu hàng hoá, tên gọi xuất xứ được bảo hộ.
Pháp luật về Sở hữu công nghiệp Việt Nam qui định bất kỳ hành vi sử dụng, chiếm đoạt các đối tượng Sở hữu công nghiệp đã được bảo hộ, vì mục đích thương mại mà không được phép của chủ Sở hữu, là hành vi xâm phạm quyền Sở hữu công nghiệp.

Các chế tài, biện pháp thực thi và giải quyết tranh chấp Quyền sở hữu công nghiệp tại Việt Nam

Chủ sở hữu các đối tượng Sở hữu công nghiệp khi phát hiện hành vi xâm phạm có thể tự mình hoặc uỷ quyền đại diện cho chúng tôi gửi đơn tố cáo hành vi xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp tới các cơ quan chức năng theo thủ tục và các chế tài sau đây:

1. Các biện pháp hành chính

Các cơ quan chức năng được trao quyền thực hiện các biện pháp xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực Sở hữu công nghiệp (thực thi) bao gồm:

Thanh tra chuyên nghành về Sở hữu công nghiệp thuộc Bộ khoa học công nghệ và các Sở khoa học công nghệ và môi trường các Tỉnh, Thành phố,
Cục Quản lý thị trường thuộc Bộ Thương Mại, các Chi Cục và Ðội quản lý thị trường trực thuộc,  
Cảnh sát kinh tế Trung ương và địa phương,
Tổng Cục Hải quan và Hải quan các cửa khẩu trên toàn Quốc.    
Cục Sở hữu công nghiệp thuộc Bộ khoa học và công nghệ không trực tiếp thực hiện các biện pháp thực thi Quyền Sở hữu công nghiệp, song đây là cơ quan chuyên môn trực tiếp, trong nhiều trường hợp, theo yêu cầu của các cơ quan chức năng hoặc các bên liên quan, Cục Sở hữu công nghiệp sẽ tiến hành xem xét và đưa ra ý kiến thẩm định chính thức bằng văn bản có hay không hành vi xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp. Trên thực tiễn các hoạt động thực thi quyền SHCN tại Việt nam, ý kiến thẩm định  của Cục Sở hữu công nghiệp là tiền đề cơ bản để các cơ quan chức năng thực hiện hoặc không thực hiện các biện pháp xử phạt vi phạm hành chính.

2. Ðơn tố cáo hành vi xâm phạm quyền Sở hữu công nghiệp

Ðơn tố cáo hành vi xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp tới các cơ quan chức năng cần kèm theo những tài liệu sau:

Tài liệu chứng minh quyền Sở hữu công nghiệp như bản sao văn bằng bảo hộ, trích lục đăng bạ SHCN,
Ảnh chụp mẫu nhãn hiệu và hàng hoá mang nhãn hiệu, kiểu dáng, sản phẩm, bộ sản phẩm xâm phạm sáng chế,
Tên, địa chỉ của cá nhân, tổ chức thực hiện hành vi xâm phạm,
Ý kiến thẩm định bằng văn bản của Cục Sở hữu công nghiệp về hành vi xâm phạm,
Giấy uỷ quyền đại diện (nếu thông qua tổ chức đại diện SHCN).
3. Các chế tài hành chính

Các cơ quan chức năng thực thi quyền Sở hữu công nghiệp được trao quyền để áp dụng các chế tài hành chính sau:

 Thanh tra, kiểm tra cơ sở, cửa hàng, kho tàng của các cá nhân, tổ chức bị tố cáo/phát hiện có hành vi xâm  phạm Quyền sở hữu công nghiệp,
Cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 5. 000. 000 đồng đến 20. 000. 000 đồng đối với tổ chức, cá nhân có hành vi xâm phạm quyền Sở hữu công nghiệp,
Phạt tiền từ 20. 000. 000 đồng đến 50. 000. 000 đồng trong trường hợp tái phạm và từ 50. 000. 000 đồng đến 100. 000. 000 đồng trong trường hợp vi phạm có tổ chức, quy mô lớn nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự,
Tước quyền sử dụng giấy phép kinh doanh từ 1 đến 6 tháng hoặc không thời hạn,
Tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính, buộc loại bỏ các yếu tố vi phạm, buộc bồi thường thiệt hại.  
Thủ tục và các chế tài dân sự

1. Thủ tục xét xử dân sự

Hiện chưa có các toà án chuyên trách việc xét xử các vụ án về tranh chấp và xâm phạm  Quyền sở hữu công nghiệp tại Việt nam. Trên thực tiễn hiện nay các vụ kiện về Sở hữu công nghiệp thường do các toà án Tỉnh, Thành trực thuộc Trung Ương thụ lý và xét xử theo thủ tục chung. Ðặc biệt trong các trường hợp có yếu tố nước ngoài thì Toà án có thẩm quyền sẽ là Toà án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh hoặc Toà án Nhân dân thành phố Hà nội theo nguyện vọng của nguyên đơn.

Phán quyết của toà án sở thẩm có thể bị kháng cáo, kháng nghị và xem xét lại bởi toà án phúc thẩm theo trình tự và thủ tục tố tụng dân sự.

Trên thực tế thường mất từ 06 tháng đến 01 năm để toà án thụ lý và giải quyết một vụ tranh chấp về Sở công nghiệp tại một cấp xét xử.            

2. Các chế tài dân sự

Khi thụ lý hồ sơ, dựa vào yêu cầu của nguyên đơn và những đánh giá ban đầu, Toà án có thể thực hiện các biện pháp khẩn cấp tạm thời như yêu cầu chấm dứt hoạt động sản xuất , kê biên, niêm phong, ngừng thông quan v. v.

Nguyên đơn có thể yêu cầu Bên có hành vi xâm phạm bồi thường thiệt hại do hành vi xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp gây ra, cải chính, xin lỗi công khai trên các phương tiện thông tin đại chúng v. v..  

 Thủ tục và các chế tài hình sự

1. Ðối với các hành vi xâm phạm quyền Sở hữu công nghiệp nghiêm trọng, ảnh hưởng đến  trật tự và lợi ích công chúng, chủ sở hữu đối tượng Sở hữu công nghiệp đã được bảo hộ hoặc bất kỳ tổ chức, cá nhân nào cũng có thể tố cáo hành vi xâm phạm đến cơ quan bảo vệ pháp luật,

Toà án có thẩm quyền là các toà án Tỉnh, Thành phố trực thuộc Trung ương nơi xảy ra hành vi xâm phạm. Trong trường hợp có yếu tố nước ngoài, toà án Thành phố Hà nội hoặc Thành phố Hồ Chí Minh sẽ có thẩm quyền xét xử.

Phán quyết của toà án sở thẩm có thể bị kháng cáo, kháng nghị và xem xét lại bởi toà án phúc thẩm theo trình tự và thủ tục tố tụng hình sự.

2. Các chế tài hình sự

Các tổ chức, cá nhân vì mục đích kinh doanh có hành vi chiếm đoạt, sử dụng bất hợp pháp các đối tượng Sở hữu công nghiệp đang được bảo hộ tại Việt nam gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ hai mươi triệu đồng đến hai trăm triệu đồng hoặc cải tạo không giam giữ đến hai năm.

Phạm tội có tổ chức, phạm tội nhiều lần, gây hậu quả rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng có thể bị phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.

Các hình thức phạt bổ sung: Phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm.

Kinh nghiệm hoạt động và dịch vụ trợ giúp thường xuyên

Một kinh nghiệm trong xử lý xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp chúng tôi muốn gửi tới các doanh nghiệp là khi phát hiện ra hành vi xâm phạm Quyền sở hữu công nghiệp của mình, doanh nghiệp nên thực hiện ngay lập tức các biện pháp ngăn chặn, xử lý tránh để tình trạng xâm phạm diễn ra tràn lan sẽ rất khó khăn và tốn kém trong việc xử lý về sau.

Qua các hoạt động tư vấn và đại diện của chúng tôi cho các doanh nghiệp Viêt nam và nước ngoài trong việc xử lý các hành vi xâm phạm quyền Sở hữu công nghiệp cho thấy các biện pháp hành chính là tỏ ra có hiệu quả hơn cả vì các chi phí doanh nghiệp phải bỏ ra không cao, thời gian nhanh chóng từ 3 tuần đến 01 tháng để kết thúc sự việc.  

Ðể thực hiện các biện pháp xử lý nhanh chóng, có hiệu quả, theo kinh nghiệm của chúng tôi các doanh nghiệp nên xem xét các biện pháp sau:

1. Xác lập cơ sở pháp lý vững chắc cho Quyền SHCN

Hiện tượng xâm phạm nhãn hiệu hàng hoá, kiểu dáng công nghiệp tại Việt Nam đang diễn ra ngày càng phức tạp, tinh vi và thể hiện ở nhiều biến thể khác nhau bên cạnh đó hệ thống pháp luật về Sở hữu công nghiệp đang trong giai đoạn sửa đổi, hoàn thiện do vậy để có cơ sở pháp lý vững chắc ngăn chặn hiệu quả các hành vi xâm phạm nhãn hiệu hàng hoá, ngoài nhãn hiệu hàng hoá đã đăng ký, các doanh nghiệp cần xem xét đăng ký mở rộng:

Nhãn hiệu hàng hoá
Phạm vi hàng hoá/dịch vụ mang nhãn hiệu
2. Các biện pháp thường xuyên và lâu dài.

Ðể nắm bắt và có biện pháp ngăn chặn sớm ngay từ đầu các hành vi xâm phạm, doanh nghiệp cần thực hiện việc tra cứu thường xuyên theo chu kỳ các dữ liệu từ Cục Sở hữu công nghiệp nhằm xác định diễn biến và tình trạng pháp lý các NHHH và KCND của các doanh nghiệp cùng lĩnh vực. Trên cơ sở kết quả tra cứu, chúng tôi sẽ tiến hành đánh giá, tư vấn và đại diện trong các biện pháp ngăn chặn thích hợp.

Bên cạnh đó, đội ngũ các điều tra viên của chúng tôi luôn thực hiện các hoạt động kiểm tra, rà soát trên thị trường, các nguồn thông tin từ báo chí, phương tiện thông tin đại chúng, tài liệu quảng cáo...  nhằm phát hiện sớm và thông tới các doanh nghiệp các hành vi xâm phạm quyền  sở hữu công nghiệp.

Quy trình đăng ký nhãn hiệu hàng hóa tại Việt Nam

Quyền nộp đơn yêu cầu cấp Văn bằng bảo hộ được quy định tại Điều 789 Bộ luật Dân sự được cụ thể hóa như sau:

Cá nhân, pháp nhân, các chủ thể khác tiến hành hoạt động sản xuất, dịch vụ hợp pháp có quyền nộp đơn yêu cầu cấp Văn bằng bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa, dịch vụ dùng cho sản phẩm,dịch vụ do mình sản xuất hoặc sẽ sản xuất;

Cá nhân, pháp nhân, các chủ thể khác tiến hành hoạt động thương mại hợp pháp có quyền nộp đơn yêu cầu cấp Văn bằng bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa cho sản phẩm do mình đưa ra thị trường nhưng do người khác sản xuất với điều kiện người sản xuất không sử dụng nhãn hiệu hàng hóa đó cho sản phẩm tương ứng và không phản đối việc nộp đơn nói trên;
Đối với nhãn hiệu tập thể, quyền nộp đơn yêu cầu cấp Văn bằng bảo hộ thuộc về cá nhân, pháp nhân đại diện cho tập thể các cá nhân, pháp nhân hoặc chủ thể khác cùng tuân theo quy chế sử dụng nhãn hiệu hàng hóa tương ứng;
Quyền nộp đơn yêu cầu cấp Văn bằng bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa đã nộp, có thể được chuyển giao như đối với sáng chế, giải pháp hữu ích, kiểu dáng công nghiệp

Chọn nhãn hiệu xin đăng ký

Mỗi một nhãn hiệu chỉ được dùng cho một sản phẩm, dịch vụ nhất định và chỉ thuộc về người nộp đơn đăng ký đầu tiên. Vì vậy, để tránh đầu tư công sức và chi phí vô ích, trước khi nộp đơn đăng ký, doanh nghiệp cần biết chắc nhãn hiệu mà mình muốn đăng ký chưa có người nào khác nộp đơn đăng ký.

Ngoài ra, nhãn hiệu sẽ bị từ chối đăng ký nếu rơi vào các trường hợp sau:

Không có khả năng thực hiện chức năng phân biệt của nhãn hiệu (không mang tính đặc thù cho loại hàng hóa đó);
Đã thuộc quyền của người khác;
Trùng hoặc tương tự tới mức gây nhầm lẫn với nhãn hiệu của người khác đã được Cục Sở hữu trí tuệ chứng nhận hoặc đã nộp đơn đăng ký;
Trùng hoặc tương tự với những nhóm hàng hóa đã thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp khác, gồm: tên thương mại, chỉ dẫn địa lý, kiểu dáng công nghiệp, quyền tác giả;
Trùng với tên riêng, biểu tượng, hình ảnh của quốc gia, địa phương, danh nhân, tổ chức của Việt Nam và nước ngoài (trừ trường hợp được phép của các cơ quan hoặc cá nhân có thẩm quyền).
Để tìm hiểu cụ thể thông tin về các nhãn hiệu đã có chủ sở hữu hoặc đã có đơn nộp đăng ký, doanh nghiệp có thể tra cứu từ các nguồn sau đây:

Công báo Sở hữu công nghiệp do Cục Sở hữu công nghiệp phát hành hàng tháng;
Đăng bạ quốc gia và Đăng bạ quốc tế về nhãn hiệu hàng hóa (lưu giữ tại Cục Sở hữu công nghiệp);
Cơ sở dữ liệu điện tử về nhãn hiệu đã đăng ký trực tiếp tại Việt Nam, do Cục Sở hữu trí tuệ công bố trên mạng Internet (http://www.noip.gov.vn/);
Cơ sở dữ liệu điện tử về nhãn hiệu đã đăng ký vào Việt Nam theo Thỏa ước Madrid, do Cục Sở hữu trí tuệ công bố trên mạng Internet (http://www.wipo.int/);

Hồ sơ đăng ký nhãn hiệu hàng hóa:

Bộ hồ sơ đơn đăng ký nhãn hiệu hàng hoá phải bao gồm các tài liệu sau đây:

Tờ khai yêu cầu cấp Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu hàng hoá (Tờ khai), làm theo Mẫu do Cục Sở hữu công nghiệp ban hành, gồm ba (3) bản;
Quy chế sử dụng nhãn hiệu hàng hoá, nếu nhãn hiệu yêu cầu bảo hộ là nhãn hiệu tập thể, gồm một (1) bản;
Mẫu nhãn hiệu hàng hoá, gồm mười lăm (15) bản;
Bản sao tài liệu xác nhận quyền kinh doanh hợp pháp (Giấy phép kinh doanh hoặc Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, ...), gồm một (1) bản;
Tài liệu xác nhận quyền nộp đơn hợp pháp, nếu người nộp đơn thụ hưởng quyền nộp đơn của người khác (Chứng nhận thừa kế, Chứng nhận hoặc Thoả thuận chuyển giao quyền nộp đơn, kể cả đơn đã nộp, Hợp đồng giao việc hoặc Hợp đồng lao động, ...), gồm một (1) bản;
Giấy uỷ quyền, nếu cần;
Bản sao đơn đầu tiên hoặc Giấy chứng nhận trưng bày triển lãm, nếu trong đơn có yêu cầu hưởng quyền ưu tiên theo Điều ước quốc tế, gồm một (1) bản;
Tài liệu xác nhận về xuất xứ, giải thưởng, huy chương, nếu trên nhãn hiệu có chứa đựng các thông tin đó, gồm một (1) bản;
Giấy phép của cơ quan có thẩm quyền, nếu trên nhãn hiệu có sử dụng các biểu tượng, tên riêng, ... quy định điểm g, khoản 2, Điều 6, Nghị định 63CP (Dấu hiệu, tên gọi (bao gồm cả ảnh, tên, biệt hiệu, bút danh), hình vẽ, biểu tượng giống hoặc tương tự tới mức gây nhầm lẫn với hình Quốc kỳ, Quốc huy, lãnh tụ, anh hùng dân tộc, danh nhân, địa danh, các tổ chức của Việt Nam cũng như của nước ngoài, nếu không được các cơ quan, người có thẩm quyền tương ứng cho phép), gồm một (1) bản;
Chứng từ nộp phí nộp đơn, gồm một (1) bản.
Các tài liệu trên phải nộp đồng thời. Riêng các tài liệu sau đây có thể nộp trong thời hạn ba (3) tháng tính từ ngày nộp đơn:

Bản gốc Giấy uỷ quyền, nếu trong đơn đã có bản sao;
Bản sao đơn đầu tiên hoặc Giấy chứng nhận trưng bày triển lãm, nếu trong đơn có yêu cầu hưởng quyền ưu tiên theo Điều ước quốc tế, kể cả bản dịch ra tiếng Việt.
Phần mô tả nhãn hiệu trong Tờ khai phải làm rõ khả năng phân biệt của nhãn hiệu, trong đó phải chỉ rõ từng yếu tố cấu thành của nhãn hiệu và ý nghĩa tổng thể của nhãn hiệu. Nếu nhãn hiệu có chứa từ ngữ không phải là tiếng Việt, thì phải ghi rõ cách phát âm (phiên âm ra tiếng Việt) và nếu từ ngữ đó có nghĩa, thì phải dịch nghĩa ra tiếng Việt.

Nếu các chữ, từ ngữ yêu cầu bảo hộ được trình bày dưới dạng hình hoạ như là yếu tố phân biệt của nhãn hiệu, thì phải mô tả dạng hình hoạ của các chữ , từ ngữ đó.

Nếu nhãn hiệu có chứa chữ số không phải là chữ số A-rập hoặc chữ số La mã, thì phải dịch ra chữ số A-rập.

Nếu nhãn hiệu gồm nhiều phần tách biệt nhau nhưng được sử dụng đồng thời trên một sản phẩm, thì phải nêu rõ vị trí gắn từng phần của nhãn hiệu đó trên sản phẩm hoặc bao bì đựng sản phẩm.

Danh mục các sản phẩm, dịch vụ mang nhãn hiệu trong Tờ khai phải phù hợp hoặc cùng loại với sản phẩm, dịch vụ được phép kinh doanh như đã nêu trong Giấy phép kinh doanh hoặc Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh và phải được phân nhóm theo Bảng Phân loại Quốc tế về Sản phẩm, Dịch vụ.

Mẫu nhãn hiệu gắn trong Tờ khai cũng như các Mẫu nhãn hiệu khác được trình bày rõ ràng với kích thước không được vượt quá khuôn khổ (80 x 80) mm, và khoảng cách giữa hai điểm gần nhau nhất không được nhỏ hơn 15 mm.

Nếu yêu cầu bảo hộ màu sắc, thì Mẫu nhãn hiệu phải được trình bày đúng màu sắc cần bảo hộ.

Nếu không yêu cầu bảo hộ màu sắc, thì tất cả các Mẫu nhãn hiệu đều phải được trình bày dưới dạng đen trắng.

Nộp đơn đăng ký nhãn hiệu hàng hóa

Đơn đăng ký nhãn hiệu được nộp trực tiếp hoặc gửi qua bưu điện tới Cơ quan đăng ký nhãn hiệu hàng hoá.
Địa chỉ của Cơ quan đăng ký nhãn hiệu hàng hoá: Cục Sở hữu trí tuệ, 386 Nguyễn Trãi Hà Nội; Tài khoản: 920.90.006 Kho bạc Nhà nước Thanh Xuân.
Tổ chức, cá nhân Việt Nam có quyền tự mình nộp đơn đăng ký nhãn hiệu hàng hoá, hoặc có thể (không bắt buộc) thông qua dịch vụ trung gian của một Tổ chức dịch vụ đại diện sở hữu công nghiệp, thay mặt mình làm và nộp đơn.
Tổ chức, cá nhân nước ngoài không thường trú hoặc không có đại diện hợp pháp, không có cơ sở kinh doanh thực thụ ở Việt Nam nộp đơn thông qua việc uỷ quyền cho Tổ chức dịch vụ đại diện sở hữu công nghiệp.
Lệ phí đăng ký nhãn hiệu có thể được nộp bằng tiền mặt, séc chuyển khoản hoặc uỷ nhiệm chi cho Cơ quan đăng ký nhãn hiệu hàng hoá.
Quá trình xét nghiệm đơn nhãn hiệu hàng hóa

Xét nghiệm hình thức
Đơn yêu cầu cấp Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu hàng hoá phải được xét nghiệm hình thức nhằm xác định xem đơn có đáp ứng các yêu cầu của đơn hợp lệ hay không. Nếu đơn đáp ứng các yêu cầu của đơn hợp lệ, thì Cục Sở hữu trí tuệ xác nhận ngày nộp đơn hợp lệ, số đơn hợp lệ, ngày ưu tiên của đơn và thông báo cho người nộp đơn quyết định chấp nhận đơn.

Các yêu cầu của đơn hợp lệ gồm có: Các yêu cầu chung, các yêu cầu cụ thể về hình thức và yêu cầu về tính thống nhất của đơn sở hữu công nghiệp.

Nếu Đơn có các thiếu sót, Cục Sở hữu trí tuệ sẽ thông báo cho người nộp đơn và trong thời hạn hai tháng tính từ ngày thông báo, người nộp đơn phải sửa chữa các thiếu sót đó.

Thời hạn xét nghiệm hình thức là 03 tháng kể từ ngày đơn đến Cục Sở hữu Trí tuệ.

Công bố đơn
Các đơn nhãn hiệu hàng hoá đã được công nhận là đơn hợp lệ đều được Cục Sở hữu trí tuệ công bố trên Công báo Sở hữu công nghiệp. Công báo này được ấn hành hàng tháng. Bất cứ ai có nhu cầu có thể yêu cầu Cục Sở hữu trí tuệ cung cấp bản in Công báo và phải trả tiền mua Công báo.

Xét nghiệm nội dung
Việc xét nghiệm nội dung được tiến hành khi đơn đã được chấp nhận là đơn hợp lệ và người nộp đơn đã nộp lệ phí xét nghiệm nội dung theo quy định. Thời hạn xét nghiệm nội dung đơn Nhãn hiệu hàng hoá là 09 tháng tính từ ngày thông báo chấp nhận đơn hợp lệ.

Mục đích của việc xét nghiệm nội dung đơn yêu cầu cấp văn bằng bảo hộ là để xác định đối tượng nêu trong đơn có đáp ứng các tiêu chuẩn bảo hộ mà luật pháp quy định hay không.

Cấp Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu hàng hoá, Đăng bạ
Căn cứ vào kết quả xét nghiệm nội dung, nếu đối tượng nêu trong đơn đáp ứng các tiêu chuẩn bảo hộ, thì Cục Sở hữu trí tuệ thông báo cho Người nộp đơn kết quả xét nghiệm và yêu cầu nộp lệ phí đăng bạ, lệ phí cấp Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu hàng hoá, lệ phí công bố Văn bằng bảo hộ .

Nếu Người nộp đơn nộp các lệ phí nêu trên, thì Cục Sở hữu trí tuệ tiến hành các thủ tục cấp Văn bằng bảo hộ cho Người nộp đơn, đăng bạ và công bố Văn bằng bảo hộ. Nếu Người nộp đơn không nộp lệ phí theo yêu cầu, thì đơn coi như bị rút bỏ.

Khiếu nại và giải quyết khiếu nại liên qian đến việc cấp văn bằng bảo hộ

Người có quyền khiếu nại:
Người nộp đơn có quyền khiếu nại việc từ chối chấp nhận đơn yêu cầu cấp Văn bằng bảo hộ, từ chối cấp Văn bằng bảo hộ;
Bất người thứ ba nào cũng có quyền khiếu nại quyết định cấp Văn bằng và phải nộp lệ phí khiếu nại theo quy định.
Thủ tục khiếu nại:
Nội dung khiếu nại phải được thể hiện thành văn bản, trong đó phải nêu rõ họ, tên và địa chỉ của người khiếu nại; số, ngày ký, nội dung Quyết định hoặc Thông báo bị khiếu nại; số đơn yêu cầu cấp Văn bằng bảo hộ liên quan; tên đối tượng cần được bảo hộ nêu trong đơn; nội dung, lý lẽ, dẫn chứng minh hoạ cho lý lẽ khiếu nại; đề nghị cụ thể về việc sửa chữa hoặc huỷ bỏ Quyết định hoặc kết luận liên quan;
Đơn khiếu nại phải được nộp cho Cục Sở hữu trí tuệ trong thời hạn ba tháng tính từ ngày ra quyết định hoặc thông báo nếu việc khiếu nại thuộc trường hợp quy định tại điểm a và b, khoản 1 Điều 27 Nghị định 63 hoặc trong suốt thời hạn hiệu lực của Văn bằng bảo hộ nếu thuộc trường hợp quy định tại điểm c, khoản 1 Điều 27 Nghị định 63;
Đơn khiếu nại nộp sau thời hạn nêu trên không được xem xét.
Trong thời hạn 30 ngày tính từ ngày nhận được khiếu nại, Cục Sở hữu trí tuệ phải có ý kiến trả lời bằng văn bản cho Người khiếu nại.
Nếu không đồng ý với ý kiến trả lời của Cục Sở hữu trí tuệ, Người khiếu nại có quyền khiếu nại với Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ hoặc khởi kiện theo thủ tục tố tụng hành chính. Trường hợp khiếu nại với Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ, trong thời hạn 60 ngày tính từ ngày nhận được đơn khiếu nại, Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ phải thông báo kết quả giải quyết khiếu nại cho Người khiếu nại.

Sở hữu trí tuệ (Intellectual property(IP))

Sở hữu trí tuệ (hay tài sản trí tuệ) là một khái niệm đề cập đến sự sáng tạo của tư duy theo nghĩa rộng: các phát minh, công trình văn học nghệ thuật, và các biểu tượng, tên, hình ảnh và thiết kế được sử dụng trong thương mại… Sở hữu trí tuệ liên quan đến các dạng thức của thông tin và tri thức, có thể được thể hiện trong những vật thể hữu hình đồng thời được nhân bản thành vô số bản sao ở bất kỳ đâu trên thế giới. Tuy nhiên, khái niệm tài sản được đề cập đến ở đây không phải là những bản sao đó mà là lượng thông tin và tri thức chứa đựng trong chúng. Do vậy, sở hữu trí tuệ (tài sản trí tuệ) là một loại tài sản vô hình.

Do được hiểu theo nghĩa rộng và mở nên ngay cả Tổ chức sở hữu trí tuệ thế giới (WIPO) cũng không đưa ra định nghĩa về SHTT mà chỉ đưa ra khái niệm về quyền sở hữu trí tuệ - quyền đối với các tài sản trí tuệ - đồng thời đưa ra các đối tượng được bảo hộ của quyền sở hữu trí tuệ, bao gồm:

• Các công trình văn học, nghệ thuật và khoa học;
• Các cuộc trình diễn của các nghệ sĩ biểu diễn, bản ghi âm, chương trình phát thanh truyền hình;
• Các phát minh trong mọi lĩnh vực do nỗ lực của con người;
• Các khám phá khoa học;
• Các kiểu dáng công nghiệp;
• Các nhãn hiệu thương mại của hàng hoá, dịch vụ, tên và thiết kế thương mại;
• Sự bảo hộ chống cạnh tranh không lành mạnh;
• Tất cả các quyền khác bắt nguồn từ hoạt động tư duy sáng tạo trong các lĩnh vực công nghiệp, khoa học, văn học, nghệ thuật.

Các đối tượng được bảo hộ bởi quyền sở hữu trí tuệ được quy định cụ thể tuỳ theo pháp luật của mỗi quốc gia.

Sở hữu trí tuệ và quyền sở hữu trí tuệ là hai khái niệm luôn song hành. Quyền sở hữu trí tuệ cũng là một quyền tài sản, song do tính đặc thù của tài sản trí tuệ nên quyền sở hữu trí tuệ cũng có một số nét khác biệt cơ bản với các quyền tài sản khác. Nếu như các quyền tài sản khác đều được luật pháp của hầu hết các quốc gia trên thế giới bảo hộ một cách tuyệt đối thì quyền sở hữu trí tuệ lại có một số giới hạn nhất định. Trong đó, quan trọng nhất phải kể đến là giới hạn về không gian và thời gian:

Thứ nhất, về giới hạn không gian: Quyền sở hữu trí tuệ chỉ được bảo hộ trong phạm vi một quốc gia. Có nghĩa là nếu bạn có một tài sản trí tuệ và bạn đăng ký bảo hộ ở quốc gia A thì trong phạm vi quốc gia này, không ai được xâm phạm đến quyền sở hữu của bạn đối với tài sản đó. Tuy nhiên quyền này không hề có giá trị tại quốc gia B (hay C) khác, trừ khi các quốc gia này cùng tham gia một Điều ước quốc tế về bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ đó. Khi đó, phạm vi không gian mà quyền sở hữu đối với tài sản trí tuệ đó được bảo hộ sẽ được mở rộng ra tất cả các quốc gia thành viên.

Thứ hai, về giới hạn thời gian: để cân bằng giữa quyền và lợi ích của chủ sở hữu tài sản trí tuệ và các lợi ích công, thông thường pháp luật của các quốc gia đưa ra một thời hạn bảo hộ đối với mỗi đối tượng của quyền sở hữu trí tuệ. Trong thời hạn đó, quyền sở hữu trí tuệ là bất khả xâm phạm. Mọi hành vi nhằm sao chép, dịch thuật, phát thanh phát sóng và các hình thức phổ biến khác tài sản trí tuệ đó đều phải có sự cho phép của chủ sở hữu. Hết thời hạn bảo hộ này (bao gồm cả thời hạn gia hạn nếu có), tài sản đó trở thành tài sản chung của nhân loại, có thể được phổ biến một cách tự do mà không cần bất kỳ sự cho phép nào của chủ sở hữu. Ví dụ, Luật Sở hữu trí tuệ 2005 của Việt Nam quy định: Tác phẩm điện ảnh, nhiếp ảnh, sân khấu, mỹ thuật ứng dụng, tác phẩm khuyết danh có thời hạn bảo hộ là năm mươi năm, kể từ khi tác phẩm được công bố lần đầu tiên; Quyền của người biểu diễn được bảo hộ năm mươi năm tính từ năm tiếp theo năm cuộc biểu diễn được định hình .v.v.

Tầm quan trọng của việc bảo hộ sở hữu trí tuệ được công nhận lần đầu tiên trong Công ước Paris về bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp năm 1883 và Công ước Berne về bảo hộ các tác phẩm văn học và nghệ thuật năm 1886. Cả hai Công ước này hiện nay đều do Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới (WIPO) thực thi.

Thông thường các quốc gia đều có luật quy định về bảo hộ sở hữu trí tuệ vì hai lí do chính: Thứ nhất, tạo ra cơ sở pháp lý cho các quyền của người sáng tạo đối với sự sáng tạo của họ về cả khía cạnh kinh tế và đạo đức đồng thời cho quyền tiếp cận của công chúng đối với sự sáng tạo đó; Thứ hai, khuyến khích sự sáng tạo, phổ biến và áp dụng các sáng tạo đó đồng thời thúc đẩy thương mại lành mạnh để đóng góp cho sự phát triển kinh tế và xã hội.

Sở hữu trí tuệ được chia thành hai mảng: sở hữu công nghiệp và quyền tác giả.

Các tình huống liên quan đến quyền bảo hộ và quyền sở hữu công nghiệp

Chào các bạn. Tôi có các tình huống liên quan đến quyền sở hữu công nghiệp dưới đây. Hy vọng được các bạn giải đáp.


+ Có 3 doanh nghiệp cùng nộp đơn đăng ký xác lập quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu “Long Minh” cho cùng sản phẩm nước mắm, tại một thời điểm, thì tất cả đều được cấp văn bằng bảo hộ. Đúng hay sai? Tại sao?

+ Một kiểu dáng công nghiệp (KDCN) được coi là mất tính mới nếu trước đó đã đưa sản phẩm sản xuất theo KDCN ra thị trường hoặc đã bị bộc lộ công khai dưới hình thức mô tả bằng văn bản là đúng hay sai? Tại sao?

+ Khi phát hiện hành vi xâm phạm, chủ sở hữu quyền SHTT cần thông báo bằng văn bản cho chủ thể vi phạm và yêu cầu họ chấm dứt hành vi xâm phạm, nếu họ không chấm dứt hành vi phạm thì yêu cầu cơ quan có thẩm quyền xử lý hành chính là đúng hay sai? Tại sao?

Hội nhập quốc tế và đổi mới cơ chế thực thi, bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ của Việt Nam

Theo đánh giá của các đối tác kinh tế quan trọng, Việt Nam đã và đang có nhiều nỗ lực trong việc xây dựng và hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ nhưng vấn đề thực thi đang cần một lộ trình và giải pháp phù hợp.

1- Sự cần thiết của việc bảo hộ quốc tế các quyền sở hữu trí tuệ trong xu thế toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tế

Ngày 11-1-2007, Việt Nam chính thức trở thành thành viên thứ 150 của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO). Điều này mở ra cơ hội to lớn trong việc phát triển kinh tế đất nước nhưng chúng ta phải đối mặt với nhiều thách thức đặc biệt là tuân thủ các cam kết quốc tế về bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ. Việc bảo hộ các quyền sở hữu trí tuệ trước hết là do nhu cầu của sự phát triển và giao lưu quốc tế, đặc biệt trong bối cảnh toàn cầu hoá, khu vực hoá về kinh tế, thương mại diễn ra ngày càng sôi động. Bảo hộ quốc tế quyền sở hữu trí tuệ là một hoạt động có tính tất yếu, khách quan, không ngừng được phát triển, thể hiện trên hai hướng: mở rộng phạm vi các đối tượng được bảo hộ bằng các thiết chế quốc tế và không ngừng chi tiết hoá nội dung bảo hộ. Điều này, ngày càng gắn chặt với quan hệ thương mại song phương, khu vực và toàn cầu. Việc gắn bảo hộ sở hữu trí tuệ với thương mại quốc tế, một mặt, sẽ tạo điều kiện để có những cơ chế bảo hộ quốc tế hữu hiệu hơn về sở hữu trí tuệ, mặt khác, cũng sẽ gây ra rất nhiều sức ép và khó khăn cho các nước có trình độ khoa học công nghệ thấp, đang trong quá trình hội nhập kinh tế khu vực hay toàn cầu phải thực thi các cam kết quốc tế về sở hữu trí tuệ.

2- Vấn đề thực thi và bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ ở Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực

Việc hội nhập sâu hơn vào các quá trình kinh tế quốc tế được coi là một trong những nhiệm vụ chiến lược cấp bách và có tầm quan trọng hàng đầu hiện nay của Nhà nước ta. Sau hơn 20 năm đổi mới, đến nay Nhà nước ta đã thiết lập được một hệ thống bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ khá đầy đủ. Xét ở phương diện lập pháp, hệ thống bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ của Việt Nam không khác biệt nhiều lắm so với các hệ thống hiện có tại nhiều nước, kể cả các nước phát triển.

Cho đến nay, Việt Nam đã tham gia các điều ước quốc tế quan trọng cũng như đã ký kết các điều ước quốc tế song phương về quyền sở hữu trí tuệ như Công ước Paris. Hệ thống pháp luật trong nước về bảo hộ và thực thi quyền sở hữu trí tuệ ngày càng hoàn thiện. Một số điều ước quốc tế đa phương khác mà Việt Nam đã và sẽ tham gia là: Công ước Berne về bảo hộ các tác phẩm văn học, nghệ thuật và khoa học (Việt Nam tham gia từ năm 2004); Công ước Paris về bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp (Việt Nam tham gia từ ngày 8-3-1949); Công ước Rome về bảo hộ người biểu diễn, nhà sản xuất bản ghi âm, tổ chức phát sóng; Thoả ước Madrid về đăng ký quốc tế nhãn hiệu hàng hóa, Việt Nam tham gia từ ngày 8-3-1949 và Nghị định thư liên quan đến Thoả ước Madrid (tham gia tháng 10/2006); Hiệp ước Hợp tác Patent (PCT) được ký tại Washington năm 1970 (Việt Nam tham gia từ ngày 10-3-1993); Thoả ước Lahay về Đăng ký quốc tế kiểu dáng công nghiệp; Hiệp ước luật nhãn hiệu hàng hoá được thông qua ngày 27-10-1994 tại Geneva: Hiệp ước Budapest về sự công nhận quốc tế đối với việc nộp lưu chủng vi sinh: Công ước quốc tế về bảo hộ giống cây trồng mới (Công ước UPOV); Hiệp ước Washington về sở hữu trí tuệ đối với bố trí mạch tích hợp; Hiệp định thương mại về Quyền Sở hữu trí tuệ (TRIPS) trong hệ thống các hiệp định của WTO; Công ước thành lập Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới (WIPO) bắt đầu có hiệu lực từ năm 1970 (Việt Nam trở thành thành viên của WIPO từ ngày 02-07-1976)...

Tuy nhiên, xét về tính hiệu quả, hệ thống bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ của Việt Nam đang đứng trước những thách thức và đòi hỏi lớn, cần được tiếp tục hoàn thiện. Việc đổi mới tổ chức, cơ chế và phương thức bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ ở Việt Nam phải được giải quyết trên cơ sở phân tích một cách khách quan thực trạng hệ thống bảo hộ sở hữu trí tuệ hiện có, rút ra những nguyên nhân, đánh giá các ưu điểm và nhược điểm của hệ thống này và kinh nghiệm quốc tế; từ đó đề xuất các giải pháp nâng cao và hoàn thiện cơ chế thực thi quyền sở hữu trí tuệ cũng như toàn bộ hệ thống bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ ở nước ta.

3- Thực thi các điều ước quốc tế về bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ và những vấn đề đặt ra đối với hệ thống bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ Việt Nam


Những nội dung cơ bản thể hiện phạm vi điều chỉnh của TRIPS cũng như những điểm mới, tiến bộ của TRIPS và WTO so với các điều ước quốc tế, đó là: về nguyên tắc, WTO (TRIPS) đưa ra những giới hạn tối thiểu trong lĩnh vực bảo hộ sở hữu trí tuệ. Các quốc gia có thể có cơ chế bảo hộ rộng hơn các quy định của TRIPS theo hướng có lợi cho các chủ thể của quyền, nhưng không hẹp hơn. TRIPS tham gia bảo hộ hầu hết các đối tượng của sở hữu trí tuệ như đối với quyền tác giả, và các quyền có liên quan, bên cạnh việc chấp nhận các quy định của Công ước Berne, TRIPS đã có thêm những điểm khác, tiến bộ. Trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp, TRIPS cũng có những điểm hoàn thiện hơn nhiều so với Công ước Paris 1967...
Các quy định của TRIPS về các biện pháp bảo đảm thực thi quyền sở hữu trí tuệ có nhiều điểm khác hẳn, tiến bộ hơn so với các điều ước quốc tế về bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ đã tồn tại từ trước đó. Các biện pháp bảo đảm thực thi mà TRIPS đưa ra bao gồm cả các biện pháp có tính chất hành chính, dân sự, hình sự và cả các biện pháp thực thi tại biên giới. TRIPS áp dụng cơ chế giải quyết tranh chấp thương mại đa phương nói chung của WTO, tạo ra sự ràng buộc chung trong việc tôn trọng tất cả các hiệp định thương mại đa phương của WTO. Người có quyền về sở hữu trí tuệ được tạo điều kiện để dựa vào pháp luật nhằm có được các quyền và lợi ích hợp pháp đối với tài sản sở hữu trí tuệ và sự bảo đảm là khi quyền và lợi ích đó bị xâm phạm thì sẽ có cơ chế hữu hiệu ngăn chặn và xử lý thích đáng sự xâm phạm đó.

4- Pháp luật Việt Nam đáp ứng các yêu cầu của TRIPS

Ngày 29-11-2005, Quốc hội đã thông qua Luật Sở hữu trí tuệ, ngày 21 và 22-9-2006, Chính Phủ đã ban hành các Nghị định hướng dẫn thực hiện Luật Sở hữu trí tuệ. Như vậy, đối với yêu cầu chung, Việt Nam đã có các quy định về thủ tục và chế tài, kể cả biện pháp khẩn cấp tạm thời. Các thủ tục đều đúng đắn, công bằng, cũng không quá phức tạp và không quá tốn kém; mọi quyết định xử lý đều dựa vào bản chất vụ việc và được làm thành văn bản; quyền khiếu kiện hành chính (cần sửa đổi quy định về quyết định giải quyết khiếu nại cuối cùng để bảo đảm quyền khiếu kiện tại toà án).

- Các thủ tục tố tụng dân sự và hành chính: Các biện pháp hành chính đã đầy đủ.

- Các biện pháp và thủ tục dân sự về cơ bản đáp ứng yêu cầu của TRIPS.

- Các biện pháp khẩn cấp tạm thời: Các quy định đã đáp ứng về cơ bản yêu cầu của TRIPS...
- Biện pháp kiểm soát biên giới: Các quy định đã đáp ứng về cơ bản yêu cầu của TRIPS... Tuy nhiên, còn thiếu hướng dẫn cụ thể của Chính Phủ và cơ quan có thẩm quyền để thực thi.
- Các thủ tục hình sự: Các quy định đã đáp ứng về cơ bản yêu cầu của TRIPS...
Ở Việt Nam hiện nay, xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ và vi phạm pháp luật về bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ ngày càng có dấu hiệu trở thành phổ biến, và, mức độ phức tạp, nghiêm trọng của tình hình xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ ngày càng có dấu hiệu gia tăng. Nhìn chung, bức tranh toàn cảnh của hoạt động thực thi và bảo đảm thực thi quyền sở hữu trí tuệ vẫn còn nhiều điểm tối. Những người có quyền hưởng quyền sở hữu trí tuệ chỉ tạo ra tác phẩm nhưng chưa quan tâm thực sự đến việc bảo vệ quyền của mình thông qua cách đăng ký bảo hộ tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Các thiết chế hỗ trợ thực thi quyền sở hữu trí tuệ chưa thật sự vào cuộc. Nhiều tổ chức hiệp hội chưa nhận thức được sự cần thiết phải đứng ra bảo vệ quyền lợi của các thành viên, ý thức chấp hành pháp luật của phần lớn nhân dân trong xã hội chưa cao. Các cơ quan nhà nước có thẩm quyền chưa quan tâm đúng mức đến việc bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ. Việc xử lý các hành vi vi phạm của các cơ quan, tổ chức chưa được thực hiện một cách nghiêm túc. Cơ chế phối hợp giữa các cơ quan chưa đồng bộ, thiếu kinh nghiệm và chưa đủ mạnh mẽ về chuyên môn cũng như các phương tiện cần thiết để có khả năng xử lý các vi phạm một cách hữu hiệu. Vai trò các cơ quan thực thi pháp luật chưa được phát huy một cách có hiệu quả. Việc xét xử các tranh chấp về quyền tác giả và quyền sở hữu công nghiệp tại Toà án chiếm tỷ lệ khiêm tốn so với các tranh chấp xảy ra trong thực tế. Những tồn tại trên có nguyên nhân chính là do: cơ chế bảo đảm thực thi chưa hoàn thiện, chưa đáp ứng được yêu cầu của thực tế; phương thức tổ chức các hoạt động và sự phối hợp của các thiết chế trong hệ thống bảo đảm thực thi chưa thực sự hiệu quả; sự hiểu biết và ý thức pháp luật của cộng đồng xã hội đối với vấn đề của bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ còn nhiều hạn chế; bản thân các chủ thể hưởng quyền sở hữu trí tuệ chưa thực sự tích cực, chủ động trong việc bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của mình...

5- Hoàn thiện pháp luật thực thi sở hữu trí tuệ trong lộ trình hội nhập kinh tế quốc tế cần tập trung vào một số công việc cụ thể

Hoàn thiện cơ chế bảo đảm thực thi quyền sở hữu trí tuệ trong pháp luật dân sự. Hoàn thiện các quy định về việc xác định các hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ; nâng cao vai trò của Toà án dân sự trong việc giải quyết các tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ. Xây dựng hệ thống các tiêu chuẩn thực thi quyền sở hữu trí tuệ một cách kịp thời và có hiệu quả. Xác định rõ thẩm quyền vụ việc của Toà án trong việc xét xử các tranh chấp về sở hữu trí tuệ, bổ sung những quy định chi tiết về các chế tài đủ mạnh để chống lại các hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ, tham khảo một số biện pháp khẩn cấp tạm thời đã được áp dụng trong thực tiễn giải quyết tranh chấp quyền sở hữu trí tuệ ở một số nước trên thế giới.

Hoàn thiện cơ chế bảo đảm thực thi quyền sở hữu trí tuệ trong pháp luật hành chính. Chính phủ đã ban hành Nghị định số 106/2006/NĐ-CP, ngày 22/9/2006, quy định xử phạt hành chính về sở hữu công nghiệp; Nghị định 100/2006/NĐ-CP, ngày 21/9/2006, quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Bộ luật Dân sự, Luật Sở hữu trí tuệ thay thế các Nghị định đã hết hiệu lực pháp luật. Quy định theo hướng mở rộng thẩm quyền giải quyết khiếu kiện hành chính trong bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ cho Tòa án (tương ứng với cơ chế thực hiện quyền khiếu kiện hành chính theo yêu cầu của TRIPS). Xây dựng và ban hành những quy định, hướng dẫn riêng về thủ tục tố tụng và những vấn đề cụ thể, riêng biệt cần được áp dụng trong quá trình giải quyết các khiếu kiện hành chính về sở hữu trí tuệ.

Hoàn thiện cơ chế bảo đảm thực thi quyền sở hữu trí tuệ trong pháp luật hình sự. Ban hành các văn bản hướng dẫn thi hành các quy định của Bộ luật Hình sự có liên quan tới việc xét xử các vụ án hình sự về xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ.

Hỏi về tra cứu "kiểu dáng công nghiệp"

Tôi đang làm công việc "nghiên cứu & phát triển sản phẩm mới" . Trong quá trình làm việc, chúng tôi có tạo ra những mẫu mã kiểu dáng chai đựng sản phẩm, xin cho hỏi làm thế nào để tôi biết được những mẫu mã mà chúng tôi đang trong quá trình tạo ra không bị trùng lắp với những mẫu mã đã đăng ký bảo hộ kiểu dáng công nghiệp.

Nếu chúng tôi sử dụng database trên mạng của Cục sở hữu trí tuệ cung cấp thì có đảm bảo tính pháp lý nếu có tranh chấp sau này không. (ví dụ: có khả năng nào có người được cấp bằng bảo hộ kiểu dáng mà không nằm trong database).

Đăng ký kiểu dáng công nghiệp

Công ty Việt Tín chuyên tư vấn đăng ký kiểu dáng công nghiệp, cung cấp hồ sơ đăng ký kiểu dáng công nghiệp, tư vấn nộp đơn, và các vấn đề khác liên quan đến việc đăng ký kiểu dáng công nghiệp, chúng tôi xin đưa ra các nội dung và tài liệu mà quý khách hàng cần cung cấp như sau:

Thông tin cần cung cấp cho việc đăng ký

  1. Họ tên đầy đủ, địa chỉ và quốc tịch của người nộp đơn;
  2. Họ tên đầy đủ, địa chỉ và quốc tịch của tác giả kiểu dáng;
  3. Tên của kiểu dáng (thể hiện đối tượng cần đăng ký);
  4. Phân loại của kiểu dáng cần đăng ký theo Phân loại quốc tế Locarno (nếu có thể);
  5. Nước ưu tiên, số đơn ưu tiên và ngày ưu tiên của đơn (trong trường hợp đơn có xin hưởng quyền ưu tiên).

Tài liệu cần cung cấp cho việc đăng ký

  1. 06 bộ hình vẽ/ảnh chụp dùng để minh hoạ cho kiểu dáng. Các hình vẽ/ảnh chụp không được vượt quá kích thước của khổ giấy A4 và tất cả các hình vẽ/ảnh chụp phải có cùng tỷ lệ. Số lượng hình vẽ/ảnh chụp trong 01 bộ phải đủ để có thể thể hiện được kiểu dáng (kiểu dáng nhìn từ các phía khác nhau và hình ảnh tổng thể của kiểu dáng);
  2. Bản mô tả vắn tắt kiểu dáng, trong đó có chỉ ra các đặc điểm khác biệt của kiểu dáng xin được bảo hộ;
  3. Bản sao tài liệu xin hưởng quyền ưu tiên có xác nhận của cơ quan nơi đơn ưu tiên được nộp (trong trường hợp đơn xin hưởng quyền ưu tiên theo Công ước Paris). Tài liệu này có thể được bổ sung trong thời hạn 03 tháng tính từ ngày nộp đơn.

Hồ sơ đăng ký kiểu dáng công nghiệp

  1. Tờ khai yêu cầu cấp Bằng độc quyền kiểu dáng công nghiệp (Tờ khai) được làm theo Mẫu do Cục SHTT ban hành;
  2. Bản mô tả kiểu dáng công nghiệp;
  3. Bộ ảnh chụp hoặc bộ ảnh vẽ kiểu dáng công nghiệp;
  4. Tài liệu xác nhận quyền nộp đơn hợp pháp, nếu người nộp đơn thụ hưởng quyền nộp đơn của người khác (Giấy chứng nhận quyền thừa kế; Giấy chứng nhận hoặc Thoả thuận chuyển giao quyền nộp đơn; Hợp đồng giao việc hoặc Hợp đồng lao động), gồm một (1) bản;
  5. Tài liệu xác nhận quyền sở hữu nhãn hiệu, nếu kiểu dáng công nghiệp có chứa nhãn hiệu, gồm một (1) bản;
  6. Giấy uỷ quyền (nếu cần);
  7. Bản sao đơn đầu tiên hoặc tài liệu chứng nhận trưng bày tại triển lãm, nếu trong đơn có yêu cầu được hưởng quyền ưu tiên theo Điều ước quốc tế, gồm một (1) bản;
  8. Chứng từ nộp phí nộp đơn và phói công bố đơn, gồm một (1) bản.
  9. Bản tiếng Việt của bản mô tả kiểu dáng công nghiệp, nếu trong đơn đã có bản tiếng Anh/Pháp/Nga của tài liệu đó;
  10.  Tài liệu xác nhận quyền sơ hữu nhãn hiệu;
  11. Bản gốc của Giấy uỷ quyền, nếu trong đơn đã có bản sao;
  12. Bản sao đơn đầu tiên hoặc tài liệu chứng nhận trưng bày tại triển lãm, kể cả bản dịch ra tiếng Việt.
  13. Bản mô tả kiểu dáng công nghiệp phải trình bày đầy đủ, rõ ràng bản chất của kiểu dáng công nghiệp và phải phù hợp với bộ ảnh chụp hoặc bộ hình vẽ và bao gồm các nội dung sau:
  14. Tên sản phẩm hoặc bộ phận sản phẩm mang kiểu dáng công nghiệp;
  15. Chỉ số Phân loại kiểu dáng công nghiệp Quốc tế (theo Thoả ước Locarno);
  16.  Lĩnh vực sử dụng của sản phẩm mang kiểu dáng công nghiệp;
  17. Các kiểu dáng công nghiệp tương tự đã biết;
  18. Liệt kê ảnh chụp hoặc hình vẽ;
  19. Bản chất của kiểu dáng công nghiệp, trong đó cần nêu rõ đặc điểm tạo dáng cơ bản của kiểu dáng công nghiệp yêu cầu bảo hộ khác biệt với kiểu dáng công nghiệp tương tự đã biết.
  20. Bộ ảnh chụp hoặc hình vẽ phải thể hiện đầy đủ bản chất của kiểu dáng công nghiệp như đã được mô tả nhằm xác định phạm vi (khối lượng) bảo hộ kiểu dáng công nghiệp đó. ảnh chụp/hình vẽ phải rõ ràng và sắc nét, không được lẫn các sản phẩm khác với sản phẩm mang kiểu dáng công nghiệp yêu cầu bảo hộ. Tất cả các ảnh chụp/hình vẽ phải theo cùng một tỉ lệ. Kích thước mỗi ảnh chụp/hình vẽ không được nhỏ hơn (90 x 120)mm và không được lớn hơn (210 x 297) mm.

Thắc mắc về Quyền chuyển giao công nghệ

Kính thưa luật sư, tôi hiện đang công tác tại một đơn vị nghiên cứu khoa học (công ty X) với tư cách là nghiên cứu viên. Tôi đã phát minh sản phẩm và đã được cấp Bằng độc quyền về kiểu dáng công nghiệp và bằng sáng chế. Trong bằng độc quyền kiểu dáng công nghiệp có ghi nội dung sau:

Chủ bằng độc quyền: Công ty X;

Tác giả: Nguyễn Văn A.

Căn cứ theo Điều 8 Luật chuyển giao công nghệ, chủ sở hữu công nghệ là người có quyền chuyển giao công nghệ. Vậy tôi xin hỏi, trong trường hợp của tôi, chủ sở hữu công nghệ là tôi (tác giả Nguyễn Văn A) hay Công ty X. Tôi, với tư cách tác giả có được quyền ký hợp đồng chuyển giao công nghệ với một đơn vị khác không.

Kính mong luật sư giải đáp thắc mắc của tôi và đưa ra giúp tôi các điều khoản trích dẫn trong văn bản pháp luật về vấn đề này. Xin chân thành cảm ơn và chúc sức khỏe.

Nếu giữa bạn và Công ty có bất kỳ một quan hệ pháp luật dân sự/ hoặc lao động nào liên quan đến tác phẩm do bạn sáng tạo ra thì:

Tác giả: Nguyễn Văn A

Chủ bằng độc quyền: Công ty X

là đúng.

Ở đây bạn chỉ có quyền nhân thân đối với tác phẩm

và bên có quyền khác thác tác phẩm là công ty X

Bạn có thể tham khảo Luật sở hữu trí tuệ 2005

Điều 37. Chủ sở hữu quyền tác giả là tác giả

Tác giả sử dụng thời gian, tài chính, cơ sở vật chất - kỹ thuật của mình để sáng tạo ra tác phẩm có các quyền nhân thân quy định tại Điều 19 và các quyền tài sản quy định tại Điều 20 của Luật này.

Điều 39. Chủ sở hữu quyền tác giả là tổ chức, cá nhân giao nhiệm vụ cho tác giả hoặc giao kết hợp đồng với tác giả

1. Tổ chức giao nhiệm vụ sáng tạo tác phẩm cho tác giả là người thuộc tổ chức mình là chủ sở hữu các quyền quy định tại Điều 20 và khoản 3 Điều 19 của Luật này, trừ trường hợp có thoả thuận khác.

2. Tổ chức, cá nhân giao kết hợp đồng với tác giả sáng tạo ra tác phẩm là chủ sở hữu các quyền quy định tại Điều 20 và khoản 3 Điều 19 của Lu��t này, trừ trường hợp có thoả thuận khác.

Thủ tục xóa tên xí nghiệp thuộc công ty

Công ty em có mấy xí nghiệp sản xuất trực thuộc nhưng hiện tại không còn hoạt động nữa. Vì vậy công ty muốn xóa tên các xí nghiệp này. Vậy luật sư có thể tư vấn cho em thủ tục để xóa tên các xí nghiệp đó được không

Công ty bạn muốn xóa tên các xí nghiệp sản xuất trực thuộc hiện tại không còn hoạt động nữa thì nên tiến hành thủ tục giải thể các xĩ nghiệp này.

Rất tiếc luật sư không có đủ thông tin của công ty bạn để tư vấn cụ thể hơn, bạn có thể hỏi tiếp tôi sẽ tư vấn.

Khi chấm dứt hoạt động địa điểm kinh doanh, doanh nghiệp gửi Thông báo đến Phòng Đăng ký kinh doanh cấp tỉnh nơi đặt địa điểm kinh doanh, kèm theo Thông báo phải có Quyết định của Chủ sở hữu công ty đối với công ty TNHH một thành viên về việc chấm dứt hoạt động địa điểm kinh doanh.

Phòng Đăng ký kinh doanh nhận thông báo, nhập thông tin vào Hệ thống thông tin đăng ký doanh nghiệp quốc gia và xóa địa điểm kinh doanh trong Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp.

Bạn tham khảo Nghị định số 43/2010/NĐ-CP ngày 15 tháng 4 năm 2010 của Chính phủ và Thông tư số 14/2010/TT-BKH ngày 04 tháng 6 năm 2010 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư.

Hỏi về luật vi phạm sản phẩm độc quyền kiểu dáng CN đã đăng bán trên website

Công ty tôi có 1 sản phẩm đang đăng ký kiểu dáng công nghiệp (đã được chứng nhận đơn).

Có 1 website khác cùng ngành nghề cố ý sử dụng hình ảnh của sản phẩm sữa chữa photoshop thay đổi thương hiệu nhãn mác treo bán với giá thấp hơn giá công ty 1/2 nhầm gây hoang mang trên thị trường , (đã nộp đơn yêu cầu Cục Sở hữu trí tuệ thẩm định lỗi)

Sau khi điều tra đơn vị này chúng tôi phát hiện đơn vị này,có thể kinh doanh sản xuất không giấy phép và không có vỏ hộp sản phẩm kiểu dáng giống Công ty chúng tôi chỉ có bộ ruột của sản phẩm do tự chế lại. Hành vi trên đã treo đầu dê bán thịt chó! cạnh tranh không lành mạnh, Chúng tôi đã có thông báo cảnh giác giả mạo trên website của chúng tôi đến khách hàng.

Như vậy hành vi trên đã vi phạm vào điều luật nào ? chúng tôi có thể làm gì để dành lại quyền sở hữu sản phẩm và uy tín của Công ty mình?

Việc Đăng ký bảo hộ sở hữu trí tuệ chỉ là thủ tục đăng ký, khi phát sinh tranh chấp, người được bảo hộ mới yêu cầu các cơ quan chức năng áp dụng các biện pháp bảo hộ.

Việc bảo hộ kiểu dáng công nghiệp không hoàn toàn đồng nhất với bảo hộ thương hiệu, bảo hộ nhãn mác.

Trường hợp công ty bạn bị xâm phạm sở hữu trí tuệ, bạn có thể khởi kiện dân sự, tố cáo hành vi làm hàng giả với cơ quan cảnh sát điều tra và cơ quan Quản lý thị trường tại địa phương.

Các lĩnh vực luật mà bạn cần nghiên cứu bào gồm: Luật sở hữu trí tuệ, Luật Thương mại, Luật Hình sự, Luật Dân sự, Luật Tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hình sự và các văn bản liên quan.

Để tư vấn chi tiết, chúng tôi cần nghiên cứu hồ sơ cụ thể của vụ việc để định hướng và thu thập tài liệu, chứng cứ củng cố định hư��ng giải quyết vụ việc.

Bạn có thể liên hệ trực tiếp để được trao đổi cụ thể.

Chúc bạn thành công

Xin mẫu bản mô tả kiểu dáng công nghiệp

Hiện em muốn đăng ký KDCN cho bao bì đựng thịt, e đã tham khảo Luật SHTT, NĐ và thông tư01/2007/TT-BKHCN hướng dẫn, nhưng còn thấy rắc rối và tù mù quá. Nên em mong mọi người ai biết hoặc có mẫu dành cho bản mô tả KDCN cho 1 kiểu dáng cụ thể nào đó thì share cho e với ạh. thực ra thì nên thuê dịch vụ làm sẽ nhanh hơn nhiều nhưng e đang rất khó khăn về tài chính ah. Mong mọi người giúp đỡ.

Xin xem thêm tại đây: http://luatsuson.tumblr.com/post/66088266353/ang-ky-bao-ho-kieu-dang-cong-nghiep

Tư vấn thay đổi đăng ký kinh doanh

Thay đổi đăng ký kinh doanh là một trong những việc làm thường xuyên của doanh nghiệp trong quá trình hoạt động, nhưng nhiều khi doanh nghiệp lại vướng mắc các thủ tục hồ sơ nhà nước, vậy hãy liên hệ tới Topiclaw để được tư vấn tận tình các thủ tục hồ sơ thay đổi đăng ký kinh doanh cho mọi loại hình và tiết kiệm thời gian và chi phí cho doanh nghiệp.

Dịch vụ của Topiclaw

1. Tư vấn các quy định của pháp luật đối với từng nội dung thay đổi đăng ký kinh doanh:
Tư vấn thay đổi tên công ty
Thay đổi tên công ty bằng tiếng việt, tiếng anh
Thay đổi tên viết tắt
Thay đổi địa chỉ trụ sở chính
Thay đổi số điện thoại, Fax, Email, Website
Thay đổi ngành nghề kinh doanh, gồm:
Rút ngành nghề kinh doanh;
Bổ sung ngành nghề kinh doanh;
Tư vấn thay đổi vốn điều lệ, gồm:  tăng vốn điều lệ, giảm vốn điều lệ;
Tư vấn thay đổi người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp;
Tư vấn thay đổi thành viên, cổ đông của công ty;
Tư vấn thay đổi thông tin cá nhân của thành viên, cổ đông công ty;
Tư vấn Thành lập chi nhánh công ty;
Tư vấn Thành lập văn phòng đại diện;
Tư vấn Lập địa điểm kinh doanh;
Các nội dung khác có liên quan.

2. Hoàn thiện hồ sơ thay đổi đăng ký kinh doanh:

Biên bản họp về việc thay đổi đăng ký kinh doanh;
 Quyết định về việc thay đổi đăng ký kinh doanh;
Thông báo thay đổi đăng ký kinh doanh;
Thông báo lập sổ đăng ký thành viên/cổ đông;
Giấy ủy quyền;
Ngoài ra, đối với từng nội dung thay đổi sẽ có thêm các văn bản khác có liên quan;

3. Đại diện thực hiện các thủ tục :

Tiến hành nộp hồ sơ tại Sở Kế hoạch và Đầu tư;
Theo dõi tiến trình xử lý và thông báo kết qủa hồ sơ đã nộp;
Nhận giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh tại Sở Kế hoạch và Đầu tư (người đại diện của DN có mặt cùng nhân viên Công ty Luật Topiclaw để ký nhận Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh)
Tiến hành nộp hồ sơ đăng ký khắc dấu và liên hệ khắc dấu cho Doanh nghiệp tại Cơ quan Công an có thẩm quyền (nếu việc thay đổi này dẫn đến thay đổi Dấu pháp nhân);
Nhận giấy chứng nhận đăng ký mẫu dấu và Dấu Công ty (người đại diện của DN có mặt cùng nhân viên Công ty Luật Topiclaw để ký nhận Dấu);
Tiến hành thủ tục đăng ký Mã số Thuế cho Doanh nghiệp (nếu việc thay đổi dẫn đến việc điều chỉnh Giấy chứng nhận đăng ký Thuế);

4. Cam kết sau thay đổi:
Soạn thảo hồ sơ pháp lý cho Doanh nghiệp phù hợp với nội dung thay đổi;
Cung cấp văn bản pháp luật có liên quan theo yêu cầu;
Hướng dẫn các thủ tục có liên quan tại trụ sở công ty Luật topiclaw.
Giảm 10% phí dịch vụ lần tiếp theo…
Đừng ngần ngại liên lạc với chúng tôi nếu quý khách đang có nhu cầu tư vấn thay đổi đăng ký kinh doanh hoặc các thắc mắc liên quan đến việc khởi nghiệp hay các yêu cầu cung cấp dịch vụ pháp lý khác.

Công bố sản phẩm, dịch vụ của Việt Tín

Các sản phẩm nhập khẩu hay sản xuất trong nước thì các doanh nghiệp đều phải làm các thủ tục công bố sản phẩm, các sản phẩm đó có thể là mỹ phẩm, thực phẩm, thực phẩm chức năng và các sản phẩm khác nữa.


Do nhu cầu lớn của các doanh nghiệp muốn công bố sản phẩm, chúng tôi - Topiclaw cung cấp dịch vụ hoàn hảo và rẻ nhất thị trường, bao gồm:

công bố mỹ phẩm

công bố thực phẩm

công bố thực phẩm chức năng

để giúp quý khách hàng và doanh nghiệp hoàn toàn tiết kiệm cả về thời gian và tài chính.

Chúng tôi với những chuyên gia nhiều kinh nghiệm làm việc với cơ quan nhà nước và soạn hồ sơ công bố rất nhanh nên chắc chắn chúng tôi là một trong những đối tác tốt nhất mà doanh nghiệp đang cần.

Giải thể là dịch vụ tốt nhất mà Việt Tín cung cấp

Tôi là luật sư +Nguyễn Linh  tôi rất vui khi được cộng tác cùng Việt Tín cung cấp dịch vụ giải thể doanh nghiệp, chúng tôi có cung cấp các dịch vụ sau:


Và nhận giải thể các loại hình khác nữa của doanh nghiệp, dịch vụ trọn gói 100 % và hoàn toàn an toàn, rẻ nhất và tiết kiệm thời gian nhất so với tất cả các nhà cung cấp dịch vụ khác ...

Chúng tôi giúp khách hàng làm thủ tục đóng mã số thuế và thay mặt khách hàng làm mọi thu tục khác nữa vì thế bạn có thể tiết kiệm thời gian công sức cho việc khác.

Ghi chép về thành lập công ty

Hôm nay có hai khách đến Topiclaw để xin tư vấn thành lập công ty, với vẻ mặt đầy lo âu, họ đã được anh +Nguyễn Quang Hiển tư vấn chọn loại hình doanh nghiệp thích hợp nhất và ngành nghề kinh doanh được chọn một cách tổng quát và phù hợp nhất.

Hai khách này sẽ được thành lập công ty tnhh hai thành viên, và đặc biệt +Nguyễn Linh đã được nhận thêm công bố thức ăn chăn nuôi từ hai khách này, hên thế không biết.

Khách tới để thành lập công ty sản xuất thức ăn chăn nuôi, nhân tiện họ muốn tìm hiểu thêm về công bố sản phẩm thức ăn chăn nuôi, thú thật khi họ hỏi công ty đã nhận đươc hợp đồng nào tương tự ngoài Bắc này chưa, câu trả lời là chưa. Các công ty sản xuất thức ăn chăn nuôi tại Miền Bắc rất nhiều, theo thống kê thì có tới ngấp nghế 300 doanh nghiệp nhưng không thấy họ công bố tiêu chuẩn bao giờ cả.

Hầu hết công bố thức ăn chăn nuôi hợp đồng là từ miền nam, chả hiểu sao cả miền bắc chỉ có 1 doanh nghiệp mới thành lập này làm việc này nữa.

Công bố chất lượng mỹ phẩm

Công bố chất lượng mỹ phẩm là việc làm cần thiết để sản phẩm mỹ phẩm của các bạn và quý doanh nghiệp được lưu hành trên thị trường ! Nắm bắt được nhu cầu đó, giúp các doanhh nghiệp dễ dàng nhanh chóng trong việc làm công bố mỹ phẩm, chúng tôi - Topiclaw xin giới thiệu dịch vụ làm công bố chất lượng mỹ phẩm.

Khách hàng sử dụng dịch vụ Công bố chất lượng mỹ phẩm tại Topiclaw sẽ được các tư vấn của chúng tôi thực hiện các công việc như sau:

1. Tư vấn miễn phí cho khách hàng các vấn đề liên quan đến hoạt động Công bố chất lượng mỹ phẩm như:
Tư vấn những quy định của pháp luật về Công bố chất lượng mỹ phẩm;
Tư vấn thủ tục Công bố chất lượng mỹ phẩm;
Tư vấn chuẩn bị hồ sơ, tài liệu chuẩn Công bố chất lượng mỹ phẩm;
Tư vấn các vấn đề liên quan khác.
Trên cơ sở các yêu cầu và tài liệu khách hàng cung cấp chúng tôi sẽ phân tích, đánh giá tính hợp pháp, phù hợp với yêu cầu thực hiện công việc;
Chúng tôi đại diện cho khách hàng dịch thuật, công chứng các giấy tờ có liên quan.

Công bố lưu hành thực phẩm

Tất cả các sản phẩm nhập khẩu và sản xuất trong nước đều phải công boos lưu hành thì sản phẩm đó mới được bán rộng rãi trên thị trường, Vì thế Topiclaw có dịch vụ công bố sản phẩm thực phẩm giúp các doanh nghiệp lập hồ sơ công bố, thủ tục như sau:
  • Bản công bố tiêu chuẩn sản phẩm (theo mẫu).
  • Bản tiêu chuẩn cơ sở do thương nhân ban hành (có đóng dấu) (theo mẫu)
  • Giấy chứng nhận tiêu chuẩn sản phẩm (theo mẫu).
  • Nhãn sản phẩm hoặc dự thảo nội dung ghi nhãn sản phẩm phù hợp với pháp luật về nhãn (có đóng dấu của thương nhân hoặc ký tên ghi rõ họ tên nếu thương nhân không có dấu).
  • Mẫu có gắn nhãn sản phẩm.
  • Phiếu kết quả kiểm nghiệm (gồm các chỉ tiêu chất lượng chủ yếu, chỉ tiêu chỉ điểm chất lượng, chỉ tiêu vệ sinh của thực phẩm công bố) do Phòng kiểm nghiệm được công nhận cấp (hoặc Phòng kiểm nghiệm do cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền chỉ định).Riêng nước khoáng thiên nhiên phải có thêm phiếu kết quả xét nghiệm đối với nguồn nước.
  • Giấy đăng ký kinh doanh của thương nhân Việt Nam hoặc Giấy phép thành lập văn phòng đại diện của công ty sản xuất nước ngoài (bản sao công chứng).
  • Giấy chứng nhận cơ sở đủ điều kiện vệ sinh, an toàn thực phẩm tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc (bản sao) (đối với các sản phẩm thuộc 10 nhóm thực phẩm có nguy cơ cao).
  • Bản sao giấy chứng nhận sở hữu nhãn hiệu hàng hoá (nếu có).
  • Đối với thực phẩm chiếu xạ, thực phẩm biến đổi gen, sản phẩm công nghệ mới hoặc trong thành phần có chứa nguyên liệu có nguồn góc biến đổi gen, chiếu xạ trong hồ sơ công bố phải có bản sao giấy chứng nhận an toàn sinh học, an toàn chiếu xạ và thuyết minh quy trình sản xuất.
  • Bản sao biên lai nộp phí thẩm định hồ sơ và lệ phí cấp số chứng nhận.


Nếu bạn và quý vị có nhu cầu xin mời liên heej tới Topiclaw để được tư vấn hoàn toàn miễn phí !

Thành lập công ty giá rẻ

Để lựa chọn một công ty cung cấp dịch vụ thành lập công ty tốt nhất không hẳn dễ với nhiều người, ngoài ra thủ tục thành lập công ty không phải ai cũng soạn đúng hồ sơ. Có lẽ Việt Tín là một trong những lựa chọn tốt nhất để bạn khởi nghiệp.

Việt Tín chúng tôi cung cấp dịch vụ thành lập công ty giá rẻ nhất cả nước, chúng tôi thậm chí còn cung cấp cho các bạn sử dụng dịch vụ một năm tư vấn về vấn đề pháp lý nảy sinh trong quá trình hoạt động của công ty của bạn, hơn nữa chúng tôi cung cấp miễn phí dịch vụ tư vấn kế toán cho các bạn.

Vấn đề pháp lý và kế toán gần như là một trong những vấn đề quan trọng của công ty bạn mới thành lập vì nhiều khi bạn không hẳn tìm hiểu được hết các khía cạnh của hai mảng này.

Việt Tín cung cấp cho quý vị thông tin về các loại hình doanh nghiệp, giúp quý khách lựa chọn đúng loại hình cho đứa con tinh thần của mình sau này, chúng tôi có cung cấp:
  1. Thành lập công ty cổ phần
  2. Thành lập công ty tnhh
  3. Thành lập công ty tư nhân


Và nếu bạn có vốn đầu tư nước ngoài có thể tham khảo các thông tin về tư vấn đầu tư nước ngoài, chúng tôi đã cung cấp khá chi tiết các bước và hồ sơ.

Việt Tín với khẩu hiệu "ĐỒng hành cùng doanh nghiệp mới thành công" sẽ giúp bạn cả hai vấn đề trên, ngoài ra trong quá trình hoạt động của doanh nghiệp không tránh khỏi thay đổi đăng ký kinh doanh. Thế nên bạn nên chọn Việt Tín cho việc khởi nghiệp của mình vì chúng tôi còn tiếp tục giảm 10 % cho các dịch vụ tiếp theo của bạn !

Đăng ký sở hữu trí tuệ cùng Việt Tín Law

Trong thời đại phát triển của nền kinh tế tri thức và hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay, vấn đề Sở hữu trí tuệ (SHTT) và bảo hộ quyền SHTT ngày càng đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển chung của nhân loại.


Kể từ khi Luật Sở hữu trí tuệ được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XI, kỳ họp thứ 8 thông qua ngày 29/11/2005 và có hiệu lực từ ngày 01/07/2006 (quy định cụ thể về quyền SHTT bao gồm: Quyền tác giả, quyền liên quan đến quyền tác giả; Quyền sở hữu công nghiệp; Quyền đối với giống cây trồng và việc bảo hộ các quyền đó) cùng nhiều các văn bản quy phạm pháp luật của nhà nước như các Nghị định, thông tư…quy định rõ thêm về các vấn đề thuộc quyền SHTT đi vào cuộc sống, có thể nói đây chính là thể hiện sự chú trọng, quan tâm đặc biệt của Đảng và Nhà nước Việt Nam đến vấn đề SHTT được triển khai, thúc đẩy mạnh mẽ trên khắp các tỉnh thành trong cả nước.


Mọi thông tin cần thiết trong việc bảo hộ quyền SHTT được quy định cụ thể trong Luật Sở hữu trí tuệ 2005 và một số Nghị định, thông tư... có liên quan.

Việc tìm hiểu về SHTT và bảo hộ quyền SHTT đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao nhận thức về việc bảo vệ và phát triển tài sản trí tuệ của con người và xã hội. Ở phạm vi hẹp hơn, thông qua hiểu biết được tầm quan trọng của quyền SHTT sẽ là cơ sở để các tổ chức, cá nhân đặc biệt là giới doanh nhân phát triển được giá trị các loại hình tài sản trí tuệ của mình, đồng thời bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp trước mọi hành vi xâm phạm bất hợp pháp và cạnh tranh không lành mạnh. Từ đó thúc đẩy vấn đề SHTT lên một tầm cao mới trong xu thế phát triển toàn cầu trên mọi lĩnh vực.


Từ việc thúc đẩy cạnh tranh lành mạnh và bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ hợp pháp, Việt Tín cung cấp các dịch vụ liên quan tới sở hữu trí tuệ nhằm giúp các doanh nghiệp trong và ngoài nước bảo vệ tài sản vô hình của mình trước muôn vàn cạnh tranh của thị trường:


Đăng ký logo

Logo là biểu tượng của doanh nghiệp, cũng như nhãn hiệu hàng hoá hay các sở hữu trí tuệ khác của doanh nghiệp, logo đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển thương hiệu của doanh nghiệp, các doanh nghiệp lớn trên thế giới đã rất chú trọng trong việc đăng ký logo của công ty cũng như các khía cạnh khác của sở hữu trí tuệ, tất cả đều được đăng ký bảo hộ.

Đăng ký kiểu dáng công nghiệp

Mọi sáng tạo của bạn để tạo ra một vật thể chính là sản phẩm của bạn, sẽ không dễ dàng nếu như bạn chưa đăng ký kiểu dáng công nghiệp mà đã tung sản phẩm ra thị trường. Hãy tưởng tượng tới một ngày có một công ty X kiện bạn vì đã sản xuất ra "con đẻ" của bạn - do họ đã đăng ký kiểu dáng công nghiệp sản phẩm của bạn. Vậy hành động an toàn nhất của bạn là đăng ký kiểu dáng công nghiệp cho sản phẩm của bạn, mọi thành quả sáng tạo của bạn sẽ được bảo vệ một cách an toàn trên thị trường.




Đăng ký nhãn hiệu

Nhãn hiệu của sản phẩm của công ty bạn là một trong những vấn đề gần như là sống còn của việc phát triển sản phẩm vào thị trường. Việc đăng ký nhãn hiệu giúp doanh nghiệp an tâm phát triển thị phần của mình mà không lo các sản phẩm khác cạnh tranh không lành mạnh.


Đăng ký thương hiệu

Song song với việc đăng ký nhãn hiệu cho sản phẩm của bạn thì điều tiếp theo có lẽ là bảo hộ bất cứ cái gì là sở hữu trí tuệ của công ty bao gồm đăng ký thương hiệu. Một thương hiệu chỉ có thể phát triển tốt nếu có một thương hiệu vững vàng trong lòng của khách hàng, đó là điều quan trọng mà bạn phải nghĩ tới việc bảo vệ nó bằng một giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu.


Cùng với sự bảo vệ tài sản trí tuệ của doanh nghiệp của bạn thì một khía cạnh khác không nằm trong sở hữu trí tuệ nhưng cũng rất đỗi quan trọng đó là đăng ký mã vạch cho sản phẩm của bạn, nếu kể tới lợi ích của mã vạch với sự phát triển của một sản phẩm và việc mở rộng thị trường cho sản phẩm là không thể kể hết, tôi có thể lấy ví dụ như: nếu có mã vạch bạn sẽ được ký gửi hàng hoá vào các siêu thị vì các siêu thị quản lý sản phẩm tất cả phải qua mã vạch, hay như khách hàng dễ dàng tham khảo thông tin qua một phần mềm cài trên điện thoại để soi mã vạch ...


Phát triển an toàn cùng Việt Tínđăng ký nhãn hiệu của bạn ngay hôm nay !

Công bố sản phẩm của Việt Tín

Dịch vụ công bố sản phẩm của Việt Tín vẫn là một trong những dịch vụ tốt nhất và rẻ nhất, Việt Tín vẫn tự hào vì duy nhất công ty cung cấp giá dịch vụ tốt nhất và nhanh nhất nên thương hiệu của công ty ngày càng khẳng định được thương hiệu - thương hiệu của chất lượng và giá cả.

Với một thao tác đơn giản có thể tìm kiếm hàng ngàn dịch vụ trên mạng internet, nhưng không thể bỏ qua dịch vụ công bố mỹ phẩm của Việt Tín - hiện chúng tôi đang đứng tại Top 1 của các công cụ tìm kiếm, với dịch vụ này các khách hàng là doanh nghiệp sản xuất hay nhập khẩu sẽ tiết kiệm được công sức soạn hồ sơ công bố cũng như thời gian và tiền bạc làm việc với cơ quan nhà nước.


Cũng không thể không kể đến dịch vụ công bố thực phẩm, hay công bố thực phẩm chức năng ( đây là một trong những mặt hàng nhạy cảm hiện nay, nó được gọi là thực phẩm đặc biệt ), hàng ngàn mặt hàng thực phẩm bao gồm các sản phẩm đóng gói và đồ hộp nhập khẩu đều được Việt Tín hoàn thành xuất sắc công việc của mình, nhanh nhất và tiết kiệm nhất. Một khách hàng gọi điện tới Việt Tín chia sẻ: "Chị có gọi vài đơn vị nhưng thấy các em yêu cầu ít thủ tục nhất nên chị chọn các em", đây cũng là một trong những động lực thúc đẩy nhân viên và đội ngũ quản lý của Việt Tín phấn đấu cung cấp các dịch vụ tốt hơn nữa.


Các sản phẩm khác cũng được đưa tới Việt Tín kiểm nghiệm và công bố như hôm nay, bạn +Nguyễn Linh nhận được bản hợp đồng công bố sữa nhập khẩu, hay bạn +Phạm Hằng nhận được công bố bông y tế.




Các sản phẩm khác cũng góp mặt vào danh sách sản phẩm đã công bố của Topiclaw như: Thiết bị y tế, phân bón, thức ăn chăn nuôi, đồ dùng gia đình và nhiều sản phẩm khác ...




Topiclaw ngày càng khẳng định được thương hiệu và uy tín trong lòng khách hàng, và việc khách hàng thân thiết với Topiclaw danh sách cứ dài ra dần là một trong những động lực thúc đẩy chúng tôi làm việc và phấn đấu không ngừng cho một dịch vụ chất lượng cao hơn vượt tầm các nhà cung cấp dịch vụ khác.

Hồ sơ đăng ký kinh doanh

Hồ sơ đăng ký kinh doanh của doanh nghiệp tư nhân
1. Giấy đề nghị đăng ký kinh doanh theo mẫu thống nhất do cơ quan đăng ký kinh doanh có thẩm quyền quy định.
2. Bản sao Giấy chứng minh nhân dân, Hộ chiếu hoặc chứng thực cá nhân hợp pháp khác.
3. Văn bản xác nhận vốn pháp định của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền đối với doanh nghiệp kinh doanh ngành, nghề mà theo quy định của pháp luật phải có vốn pháp định.
4. Chứng chỉ hành nghề của Giám đốc và cá nhân khác đối với doanh nghiệp kinh doanh ngành, nghề mà theo quy định của pháp luật phải có chứng chỉ hành nghề.

Hồ sơ đăng ký kinh doanh của công ty hợp danh

1. Giấy đề nghị đăng ký kinh doanh theo mẫu thống nhất do cơ quan đăng ký kinh doanh có thẩm quyền quy định.
2. Dự thảo Điều lệ công ty.
3. Danh sách thành viên, bản sao Giấy chứng minh nhân dân, Hộ chiếu hoặc chứng thực cá nhân hợp pháp khác của mỗi thành viên.
4. Văn bản xác nhận vốn pháp định của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền đối với công ty hợp danh kinh doanh ngành, nghề mà theo quy định của pháp luật phải có vốn pháp định.
5. Chứng chỉ hành nghề của thành viên hợp danh và cá nhân khác đối với công ty hợp danh kinh doanh ngành, nghề mà theo quy định của pháp luật phải có chứng chỉ hành nghề.
Hồ sơ đăng ký kinh doanh của công ty trách nhiệm hữu hạn
1. Giấy đề nghị đăng ký kinh doanh theo mẫu thống nhất do cơ quan đăng ký kinh doanh có thẩm quyền quy định.
2. Dự thảo Điều lệ công ty.
3. Danh sách thành viên và các giấy tờ kèm theo sau đây:
a) Đối với thành viên là cá nhân: bản sao Giấy chứng minh nhân dân, Hộ chiếu hoặc chứng thực cá nhân hợp pháp khác;
b) Đối với thành viên là tổ chức: bản sao quyết định thành lập, Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh hoặc tài liệu tương đương khác của tổ chức; văn bản uỷ quyền, Giấy chứng minh nhân dân, Hộ chiếu hoặc chứng thực cá nhân hợp pháp khác của người đại diện theo uỷ quyền.
Đối với thành viên là tổ chức nước ngoài thì bản sao Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh phải có chứng thực của cơ quan nơi tổ chức đó đã đăng ký không quá ba tháng trước ngày nộp hồ sơ đăng ký kinh doanh.
4. Văn bản xác nhận vốn pháp định của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền đối với công ty kinh doanh ngành, nghề mà theo quy định của pháp luật phải có vốn pháp định.
5. Chứng chỉ hành nghề của Giám đốc hoặc Tổng giám đốc và cá nhân khác đối với công ty kinh doanh ngành, nghề mà theo quy định của pháp luật phải có chứng chỉ hành nghề.
Hồ sơ đăng ký kinh doanh của công ty cổ phần
1. Giấy đề nghị đăng ký kinh doanh theo mẫu thống nhất do cơ quan đăng ký kinh doanh có thẩm quyền quy định.
2. Dự thảo Điều lệ công ty.
3. Danh sách cổ đông sáng lập và các giấy tờ kèm theo sau đây:
a) Đối với cổ đông là cá nhân: bản sao Giấy chứng minh nhân dân, Hộ chiếu hoặc chứng thực cá nhân hợp pháp khác;
b) Đối với cổ đông là tổ chức: bản sao quyết định thành lập, Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh hoặc tài liệu tương đương khác của tổ chức; văn bản uỷ quyền, Giấy chứng minh nhân dân, Hộ chiếu hoặc chứng thực cá nhân hợp pháp khác của người đại diện theo uỷ quyền.
Đối với cổ đông là tổ chức nước ngoài thì bản sao Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh phải có chứng thực của cơ quan nơi tổ chức đó đã đăng ký không quá ba tháng trước ngày nộp hồ sơ đăng ký kinh doanh.
4. Văn bản xác nhận vốn pháp định của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền đối với công ty kinh doanh ngành, nghề mà theo quy định của pháp luật phải có vốn pháp định.
5. Chứng chỉ hành nghề của Giám đốc hoặc Tổng giám đốc và cá nhân khác đối với công ty kinh doanh ngành, nghề mà theo quy định của pháp luật phải có chứng chỉ hành nghề.
Hồ sơ, trình tự thủ tục, điều kiện và nội dung đăng ký kinh doanh, đầu tư của nhà đầu tư nước ngoài lần đầu tiên đầu tư vào Việt Nam
Hồ sơ, trình tự, thủ tục, điều kiện và nội dung đăng ký kinh doanh, đầu tư của nhà đầu tư nước ngoài lần đầu tiên đầu tư vào Việt Nam được thực hiện theo quy định của Luật này và pháp luật về đầu tư. Giấy chứng nhận đầu tư đồng thời là Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh.

Đơn giản hóa thủ tục hành chính về các điều kiện đảm bảo an toàn PCCC

Thay vì phải xin cấp Giấy chứng nhận đủ điều kiện về phòng cháy, chữa cháy (PCCC), thì nay cá nhân, tổ chức chỉ cần thông báo bằng văn bản cam kết bảo đảm các điều kiện an toàn về PCCC đồng thời, gửi kèm theo các giấy tờ, tài liệu chứng minh việc đáp ứng đầy đủ các điều kiện này.



Đây là một trong những nội dung của Nghị định số 46/2012/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 35/2003/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật PCCC và Nghị định số 130/2006/NĐ-CP quy định chế độ bảo hiểm cháy, nổ bắt buộc. Như vậy, thay vì phải thực hiện thủ tục cấp Giấy chứng nhận đủ điều kiện về PCCC, từ ngày 15/7/2012, chủ phương tiện, chủ cơ sở chỉ cần có văn bản thông báo cam kết bảo đảm các điều kiện an toàn về PCCC cùng các tài liệu chứng minh đi kèm là có thể hoạt động ngay mà không cần chờ phản hồi từ phía cơ quan Cảnh sát PCCC.



Các đối tượng được áp dụng theo Nghị định số 46/2012/NĐ-CP bao gồm: Nhà ở, khách sạn, văn phòng làm việc, nhà cho thuê văn phòng có chiều cao từ 7 tầng trở lên; Cơ sở sản xuất, chế biến xăng dầu, khí đốt hóa lỏng và hóa chất dễ cháy, nổ, với mọi quy mô; Cơ sở sản xuất, gia công, cung ứng, bảo quản và sử dụng vật liệu nổ công nghiệp; Kho xăng dầu có tổng dung tích 500m3 trở lên, kho khí đốt hóa lỏng có tổng trọng lượng khí từ 600kg trở lên; Cửa hàng kinh doanh xăng dầu, khí đốt hóa lỏng.

Chợ kiên cố hoặc bán kiên cố có tổng diện tích kinh doanh từ 1.200m2 trở lên hoặc có từ 300 hộ kinh doanh trở lên, trung tâm thương mại, siêu thị, cửa hàng bách hóa có tổng diện tích các gian hàng từ 300m2 trở lên hoặc có tổng khối tích từ 1.000m3 trở lên.

Nhà máy nhiệt điện có công suất từ 100MW trở lên, nhà máy thủy điện có công suất từ 20MW trở lên, trạm biến áp có điện áp từ 220KV trở lên.

Phương tiện giao thông cơ giới có yêu cầu đặc biệt về bảo đảm an toàn phòng cháy và chữa cháy như tàu thủy, tàu hỏa chuyên dùng để vận chuyển hành khách, vận chuyển xăng dầu, chất lỏng dễ cháy, khí cháy, vật liệu nổ, hóa chất có nguy hiểm cháy, nổ được chế tạo mới hoặc hoán cải.

Quy định pháp luật về quản lý, sử dụng vật liệu nổ

VLN quân dụng (QD) sử dụng cho mục đích quốc phòng, an ninh và chỉ có hai đối tượng được phép sử dụng là quân đội, công an.

Đơn vị được giao nghiên cứu, chế tạo, bảo quản, sử dụng VLN QD phải thiết lập hệ thống tổ chức quản lý, kỹ thuật an toàn do lãnh đạo trực tiếp điều hành, chỉ đạo và phân công người có đủ trình độ, kinh nghiệm chịu trách nhiệm thực hiện công tác kỹ thuật an toàn tại mỗi bộ phận, vị trí có nguy cơ cao về sự cố, tai nạn cháy, nổ; có phương án bảo vệ an ninh, trật tự (AN, TT) và phương án, biện pháp phòng cháy và chữa cháy (PCCC); định kỳ tổ chức diễn tập PCCC, cứu hộ, cứu nạn. Các kho chứa VLN QD phải thiết kế, xây dựng theo đúng tiêu chuẩn an toàn kỹ thuật, có kế hoạch phòng ngừa, ứng phó sự cố khẩn cấp, bảo đảm an toàn về vệ sinh môi trường. Việc vận chuyển VLN QD phải có mệnh lệnh hành quân, mệnh lệnh vận chuyển hoặc giấy phép vận chuyển của cấp có thẩm quyền; bảo đảm bí mật, an toàn; vận chuyển với số lượng lớn hoặc loại nguy hiểm phải có phương tiện chuyên dùng.



Siết chặt công tác quản lý vũ khí, vật liệu nổ

SẢN XUẤT, KINH DOANH VLN CÔNG NGHIỆP

VLN công nghiệp (CN) là VLN sử dụng cho mục đích sản xuất CN, kinh tế, dân sinh; sản phẩm VLN CN phải có ký hiệu, nơi sản xuất, năm sản xuất, hạn sử dụng.

Tổ chức sản xuất, kinh doanh VLN CN phải là doanh nghiệp 100% vốn nhà nước được Thủ tướng Chính phủ giao nhiệm vụ theo đề nghị của Bộ Công thương, Bộ Công an, Bộ Quốc phòng.

Tổ chức sản xuất VLN CN chỉ được bán sản phẩm đúng chủng loại cho các doanh nghiệp kinh doanh VLN CN.

Tổ chức kinh doanh VLN CN chỉ được bán VLN CN đã có trong danh mục VLN Việt Nam cho tổ chức có giấy phép sử dụng; phải mua lại VLN CN thừa, không sử dụng hết của các tổ chức được phép sử dụng; chỉ được kinh doanh tiền chất thuốc nổ, VLN CN theo đúng quy định tại giấy phép.

Việc nhập khẩu hoặc ủy thác nhập khẩu, mua tiền chất thuốc nổ chỉ được thực hiện giữa các doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh VLN CN; chủng loại sản phẩm, quy mô sản xuất phải phù hợp với quy hoạch phát triển VLN CN và đáp ứng các tiêu chuẩn, quy chuẩn về chất lượng và kỹ thuật an toàn.

Những người liên quan đến sản xuất, kinh doanh VLN CN phải đáp ứng các yêu cầu về AN, TT; có trình độ chuyên môn phù hợp và được huấn luyện về kỹ thuật an toàn, PCCC, ứng phó sự cố.

Nhà xưởng, kho chứa, bến cảng, nơi tiếp nhận bốc dỡ, thiết bị, phương tiện vận chuyển VLN CN phải bảo đảm các điều kiện về AN, TT, bảo đảm khoảng cách an toàn đối với các công trình, đối tượng cần bảo vệ; phải được thiết kế, xây dựng phù hợp, đáp ứng các yêu cầu về bảo quản, vận chuyển VLN CN, PCCC.

VẬN CHUYỂN VLN CN

Tổ chức, đơn vị vận chuyển VLN CN phải là doanh nghiệp có đăng ký kinh doanh ngành nghề vận chuyển hàng hóa hoặc được phép sản xuất, kinh doanh hoặc được phép sử dụng VLN CN; có phương tiện đủ điều kiện vận chuyển theo tiêu chuẩn, quy chuẩn về kỹ thuật an toàn trong hoạt động VLN CN; đáp ứng các điều kiện an toàn về PCCC.

Người quản lý, người điều khiển phương tiện, áp tải và người phục vụ khác có liên quan đến vận chuyển VLN CN phải đáp ứng các yêu cầu về AN, TT; có trình độ chuyên môn tương xứng với vị trí, chức trách đảm nhiệm, được huấn luyện đề PCCC; có giấy phép (hoặc mệnh lệnh) vận chuyển; có biểu trưng báo hiệu phương tiện đang vận chuyển VLN CN. Phải thực hiện đúng nội dung ghi trong mệnh lệnh (hoặc giấy phép) vận chuyển; kiểm tra tình trạng hàng hóa trước khi xuất phát hoặc sau mỗi lần phương tiện dừng, đỗ và khắc phục ngay sự cố xảy ra; có phương án bảo đảm vận chuyển an toàn, AN, TT, PCCC; có biện pháp ứng phó sự cố khẩn cấp; thực hiện đầy đủ thủ tục giao, nhận về hàng hóa, tài liệu liên quan.

Không được chở và chở người trên cùng một phương tiện, trừ người có trách nhiệm trong việc vận chuyển; không dừng, đỗ phương tiện ở nơi đông người, khu vực dân cư, gần trạm xăng, dầu, nơi có công trình quan trọng về quốc phòng, an ninh, kinh tế, văn hóa, ngoại giao. Trường hợp cần nghỉ qua đêm hoặc do sự cố phải thông báo ngay cho cơ quan quân sự, công an nơi gần nhất biết để phối hợp bảo vệ.

SỬ DỤNG VLN CN

Tổ chức, đơn vị sử dụng VLN CN phải được thành lập theo quy định của pháp luật, có đăng ký kinh doanh hoạt động ngành nghề, lĩnh vực cần sử dụng VLN CN; có hoạt động khai thác khoáng sản, dầu khí hoặc công trình xây dựng, nghiên cứu, thử nghiệm cần sử dụng VLN CN; có kho chứa, công nghệ, thiết bị, phương tiện, dụng cụ phục vụ công tác sử dụng VLN CN đáp ứng các tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật; có địa điểm bảo đảm các điều kiện về AN, TT; người quản lý, chỉ huy nổ mìn, thợ nổ mìn và những người khác có liên quan phải đáp ứng yêu cầu về AN, TT; có đủ trình độ chuyên môn tương xứng với vị trí, chức trách đảm nhiệm, được huấn luyện về kỹ thuật PCCC.

Chỉ được mua VLN CN có trong Danh mục VLN Việt Nam từ các tổ chức kinh doanh VLN CN hợp pháp; VLN CN thừa, không sử dụng hết phải bán lại cho tổ chức kinh doanh VLN CN hợp pháp; có thiết kế, phương án nổ mìn được cơ quan cấp giấy phép nổ mìn phê duyệt và được Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương cho phép, phù hợp với quy mô sản xuất, trong đó có các biện pháp bảo đảm an toàn khi nổ mìn, việc giám sát việc tiêu thụ, tiêu hủy VLN CN trong và sau khi nổ mìn.

Nhân rộng mô hình phòng cháy, chữa cháy ở TP Hồ Chí Minh

TP Hồ Chí Minh hiện nay có hơn 200.000 cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, trong đó có gần 20.000 cơ sở có nguy cơ cháy, nổ cao. Qua ba năm thành lập Sở Cảnh sát phòng cháy, chữa cháy (PCCC) thành phố Hồ Chí Minh, công tác PCCC đã được thực hiện hiệu quả, góp phần giảm cả về số vụ cháy và thiệt hại về người và tài sản do cháy, nổ gây ra.


Thành phố Hồ Chí Minh là một trong những trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa, khoa học - kỹ thuật lớn của cả nước, với dân số gần tám triệu người. Trong những năm qua, tình hình an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội trên địa bàn thành phố được giữ vững; kinh tế tiếp tục phát triển, đạt mức tăng trưởng cao so với tốc độ tăng trưởng chung của cả nước. Việc tham gia quá trình toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế thế giới đã tạo điều kiện cho thành phố phát triển, nhưng cũng đặt ra nhiều khó khăn, thách thức mới đối với công tác bảo đảm an ninh, trật tự trong đó có công tác PCCC trên địa bàn thành phố. Bên cạnh những công trình hiện đại, cao tầng, TP Hồ Chí Minh có hàng nghìn khu dân cư được xây dựng bằng vật liệu dễ cháy; nhiều cơ sở sản xuất, kinh doanh nhỏ lẻ nằm xen kẽ trong các khu dân cư; hệ thống lưới điện ở một số khu vực đã xuống cấp không bảo đảm an toàn về PCCC; nhiều tuyến đường chật hẹp, xe chữa cháy lưu thông rất khó khăn mỗi khi có cháy xảy ra... Những năm trước đây, mỗi năm trên địa bàn TP Hồ Chí Minh xảy ra 300 vụ cháy, chiếm tỷ lệ 20% tổng số vụ cháy của cả nước. Kinh tế - xã hội ngày càng phát triển, cơ sở vật chất tập trung nhiều dẫn đến nguy cơ cháy, nổ ngày càng phức tạp.

Trước tình hình đó, đòi hỏi lực lượng Cảnh sát PCCC thành phố phải sớm đáp ứng được về mô hình tổ chức; lực lượng phải chính quy, tinh nhuệ; phương tiện phải được trang bị hiện đại mới đáp ứng được yêu cầu bảo đảm công tác PCCC và cứu hộ, cứu nạn trong tình hình mới. Năm 2006, UBND thành phố Hồ Chí Minh đã thống nhất với Bộ Nội vụ và Bộ Công an đề nghị Thủ tướng Chính phủ cho phép thí điểm thành lập Sở Cảnh sát PCCC trên cơ sở Phòng Cảnh sát PCCC - Công an TP Hồ Chí Minh. Trong ba năm qua, Sở Cảnh sát PCCC đã tham mưu cho HĐND, UBND thành phố thực hiện tốt chức năng quản lý Nhà nước về PCCC, tập trung hướng dẫn các sở, ban, ngành, UBND các quận, huyện, cơ quan, tổ chức và cơ sở xây dựng chương trình, kế hoạch triển khai thực hiện các quy định về PCCC; kiện toàn công tác nắm tình hình, điều tra cơ bản, thống kê, phân loại và quản lý các cơ sở về PCCC; triển khai mạnh mẽ chương trình cải cách hành chính, trong đó tập trung vào các công việc như thẩm duyệt về PCCC; cấp Giấy chứng nhận đủ điều kiện về PCCC; cấp Giấy phép vận chuyển vật liệu nổ, chất nổ, hàng nguy hiểm về cháy, nổ và phê duyệt phương án chữa cháy; đưa các thông tin nghiệp vụ PCCC, công khai các quy trình, quy định về công tác PCCC.

Sở Cảnh sát PCCC đã tập trung huấn luyện cho cán bộ, chiến sĩ nắm vững tính năng tác dụng, cách sử dụng các phương tiện chữa cháy, cứu hộ, cứu nạn mới được trang bị; huấn luyện chiến thuật, kỹ thuật chữa cháy trong các tình huống phức tạp như chữa cháy trên cao, trên mặt nước, chữa cháy trong điều kiện thiếu nước, chiến thuật chữa cháy các đám cháy xảy ra vào ban đêm, trong môi trường cháy độc hại, nguy hiểm... tổ chức tốt công tác thường trực sẵn sàng chiến đấu, luôn bảo đảm quân số và phương tiện, trực 24/24 giờ, nhận tin chính xác, xuất xe nhanh, tổ chức cứu chữa kịp thời các vụ cháy xảy ra trên địa bàn thành phố. Kết quả, mỗi năm giảm 18 người chết và bị thương, giảm 15 tỷ đồng thiệt hại do cháy nổ. Trong ba năm đã cứu được 98 người từ đám cháy, 37 người từ các vụ tai nạn, đưa được 50 người sơ tán khỏi vùng nguy hiểm của bão; lặn mò, tìm được 84 xác nạn nhân giao cho các địa phương và gia đình xử lý...

Qua ba năm triển khai thực hiện mô hình thí điểm, Sở Cảnh sát PCCC thành phố Hồ Chí Minh đã hoạt động có hiệu quả và phù hợp điều kiện thực tế của thành phố. Hiệu lực quản lý nhà nước đối với công tác PCCC được nâng lên rõ rệt, đã tạo được sự chuyển biến mạnh mẽ về mặt nhận thức và trách nhiệm của các cấp, các ngành, người đứng đầu cơ quan, tổ chức, hộ gia đình và người dân; phát huy được sức mạnh tổng hợp của toàn dân trong công tác PCCC. Nhờ vậy, phần lớn các vụ cháy xảy ra đã được phát hiện và xử lý kịp thời góp phần ngăn chặn cháy lan, cháy lớn, bình quân hằng năm đã giảm được hơn 25% số vụ cháy; tham gia các vụ cứu hộ, cứu nạn xảy ra trên địa bàn thành phố, đáp ứng được yêu cầu đề ra, bảo đảm an toàn PCCC, góp phần bảo vệ an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội trên địa bàn thành phố, đồng thời khẳng định việc thí điểm thành lập Sở Cảnh sát PCCC TP Hồ Chí Minh là đúng hướng, hiệu quả, phù hợp điều kiện thực tế của thành phố trong quá trình đẩy mạnh CNH, HĐH, hội nhập kinh tế quốc tế, phù hợp quá trình cải cách hành chính hiện nay và xu thế phát triển của thế giới và khu vực. Tổ chức bộ máy quản lý công tác PCCC tại TP Hồ Chí Minh phù hợp yêu cầu hoạt động PCCC của các tỉnh, thành phố lớn. Đã hình thành hai cấp quản lý về công tác PCCC. Bảo đảm được sự lãnh đạo trực tiếp của lãnh đạo cấp trên và vai trò tham mưu trực tiếp của lực lượng Cảnh sát PCCC. Công tác tham mưu được thực hiện trực tiếp từ Sở Cảnh sát PCCC đến Thành ủy, HĐND, UBND thành phố và Bộ Công an, không qua bước trung gian, nên việc tham mưu sâu hơn, cụ thể, hiệu quả và nhanh hơn so với trước. Các Phòng Cảnh sát PCCC quận, huyện thuộc Sở Cảnh sát PCCC cũng đã tham mưu giúp UBND các quận, huyện kiện toàn Ban chỉ đạo PCCC, tổ chức triển khai thực hiện đầy đủ các nội dung chỉ đạo của UBND thành phố và của cấp trên đến các phường, xã, các cơ quan, doanh nghiệp, hộ gia đình kịp thời và hiệu quả.

UBND thành phố Hồ Chí Minh và Bộ Công an đã có sự thống nhất trong việc đầu tư kinh phí cho lực lượng Cảnh sát PCCC, trước mắt tập trung trang bị những phương tiện chữa cháy và cứu hộ, cứu nạn cần thiết và sửa chữa doanh trại cho các đơn vị thuộc Sở Cảnh sát PCCC. Hiệu lực quản lý nhà nước trong lĩnh vực PCCC được nâng lên rõ rệt, công tác chữa cháy, cứu hộ, cứu nạn nhanh hơn và hiệu quả hơn. Thủ trưởng các sở, ngành thành phố, UBND các quận, huyện, người đứng đầu cơ quan, tổ chức đã nghiêm túc triển khai thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về PCCC; tổ chức tuyên truyền giáo dục pháp luật và kiến thức về PCCC; xây dựng lực lượng, trang bị phương tiện và đầu tư cho hoạt động PCCC, bố trí đất để xây dựng các Phòng Cảnh sát PCCC quận, huyện; tổ chức tự kiểm tra xử lý các vi phạm an toàn PCCC.

Tuy nhiên, tình hình cháy, nổ trên địa bàn thành phố còn những nguy cơ tiềm ẩn. Công tác tuyên truyền phổ biến pháp luật và kiến thức PCCC cho nhân dân còn hạn chế do thiếu lực lượng, phương tiện và kinh phí. Cần tăng cường hơn nữa quan hệ phối hợp giữa Sở Cảnh sát PCCC với các ban, ngành, đoàn thể, đẩy mạnh hoạt động tuyên truyền phổ biến pháp luật, kiến thức PCCC; xây dựng phong trào toàn dân PCCC sâu rộng, vững chắc, góp phần xây dựng thế trận an ninh nhân dân bền vững. Các bộ, ngành có liên quan cần nghiên cứu ban hành và bổ sung hoàn thiện hệ thống văn bản pháp luật về PCCC phù hợp thực tế và sự phát triển của xã hội. Đề nghị Chính phủ bổ sung chức năng, nhiệm vụ cứu hộ, cứu nạn cho lực lượng Cảnh sát PCCC; tăng cường biên chế và đầu tư trang bị phương tiện, đáp ứng yêu cầu thực tế PCCC trong tình hình mới. Đề nghị Thủ tướng Chính phủ cho nhân rộng mô hình Sở Cảnh sát PCCC ra các thành phố trực thuộc trung ương và các tỉnh có nhiều khu công nghiệp, cơ sở trọng điểm về chính trị, kinh tế, văn hóa có nhiều khu công nghiệp, khu chế xuất có nguy cơ cháy, nổ cao. Tăng cường chức năng quản lý nhà nước về PCCC đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của địa phương và của đất nước trong thời gian tới.


Đơn giản thủ tục phòng cháy, chữa cháy

Từ ngày 15-7, trước khi đưa cơ sở phòng cháy chữa cháy (PCCC) vào hoạt động, thay vì phải xin cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện về PCCC, người đứng đầu cơ sở hoặc chủ phương tiện chỉ cần có văn bản thông báo cam kết với cơ quan cảnh sát PCCC về việc đáp ứng đầy đủ các điều kiện về PCCC; đồng thời, gửi kèm theo các giấy tờ, tài liệu chứng minh việc đáp ứng đầy đủ các điều kiện an toàn về PCCC.

Đây là nội dung trong Nghị định số 46/2012/NĐ-CP ngày 22-5-2012 của Chính phủ ban hành sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 35/2003/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Phòng cháy và chữa cháy và Nghị định số 130/2006/NĐ - quy định chế độ bảo hiểm cháy, nổ bắt buộc.

Một buổi diễn tập PCCC


Tại Điều 22 được sửa đổi, bổ sung như sau:
1. Phương án chữa cháy phải bảo đảm các yêu cầu và nội dung cơ bản sau đây:
a) Nêu được tính chất, đặc điểm nguy hiểm về cháy, nổ, độc và các điều kiện liên quan đến hoạt động chữa cháy;
b) Đề ra tình huống cháy phức tạp nhất và một số tình huống cháy đặc trưng khác có thể xảy ra, khả năng phát triển của đám cháy theo các mức độ khác nhau;
c) Đề ra kế hoạch huy động, sử dụng lực lượng, phương tiện, tổ chức chỉ huy, biện pháp kỹ thuật, chiến thuật chữa cháy và các công việc phục vụ chữa cháy phù hợp với từng giai đoạn của từng tình huống cháy.

2. Trách nhiệm xây dựng phương án chữa cháy
a) Người đứng đầu cơ sở, trưởng thôn, trưởng ấp, trưởng bản, tổ trưởng tổ dân phố, chủ rừng, chủ phương tiện giao thông cơ giới có yêu cầu đặc biệt về bảo đảm an toàn phòng cháy và chữa cháy chịu trách nhiệm tổ chức xây dựng phương án chữa cháy sử dụng lực lượng, phương tiện tại chỗ trong phạm vi quản lý của mình (gọi chung là phương án chữa cháy của cơ sở); Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã, người đứng đầu cơ sở thuộc danh mục do Bộ Công an quy định tại Điểm b Khoản này có trách nhiệm phối hợp với cơ quan Cảnh sát phòng cháy và chữa cháy xây dựng phương án chữa cháy cho khu dân cư, cơ sở do mình quản lý theo hướng dẫn của Bộ Công an;
b) Cơ quan Cảnh sát phòng cháy và chữa cháy có trách nhiệm xây dựng phương án chữa cháy cơ sở và khu vực dân cư cần huy động lực lượng, phương tiện của Cảnh sát phòng cháy và chữa cháy và của nhiều cơ quan, tổ chức hoặc nhiều địa phương (gọi chung là phương án chữa cháy của Cảnh sát phòng cháy và chữa cháy);
Bộ Công an quy định danh mục cơ sở, khu dân cư do cơ quan Cảnh sát phòng cháy và chữa cháy có trách nhiệm xây dựng phương án chữa cháy.
c) Phương án chữa cháy phải được bổ sung, chỉnh lý kịp thời khi có những thay đổi về tính chất, đặc điểm nguy hiểm về cháy, nổ, độc và các điều kiện liên quan đến hoạt động chữa cháy.